|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 274/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27 – 5 – 2025
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Thể Phượng, ông Lê Thanh Tân.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thái Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Trương Minh Thiện – Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 123/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 53/2025/QÐST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Mỹ T, sinh năm 1995, nơi cư trú: tổ B, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
Địa chỉ liên hệ: Lầu E - Vincom C, đường T, phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Trung A, sinh năm 1997, nơi cư trú: tổ A, ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn có tại hồ sơ, thể hiện:
Năm 2023, sau thời gian tìm hiểu về tình cảm, chị Lê Thị Mỹ T và anh Nguyễn Trung A tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (Giấy chứng nhận kết hôn số 99 ngày 19/10/2023). Thời gian đầu chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do anh A có mối quan hệ mập mờ với người phụ nữ khác ở bên ngoài, chị phát hiện nhưng anh không thừa nhận, ngoài ra không phụ tiếp về kinh tế, mọi khoản chi tiêu trong gia đình đều do chị lo, chị phải gửi lên S cho anh trang trải, sinh hoạt. Đến tháng 11/2024, anh Trung A bỏ đi về quê cha mẹ ruột ở nhưng cha mẹ chồng báo là không có về nên chính thức ly thân từ đó đến nay. Do tình cảm không còn, yêu cầu ly hôn với Nguyễn Trung A.
Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Đình N, sinh ngày 01/10/2023 do chị đang nuôi dưỡng, yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: không có. Về nợ chung (phải thu, phải trả): không có.
Đối với bị đơn: Tòa án đã triệu tập để tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và hai lần để xét xử, nhưng bị đơn đều vắng mặt không rõ lý do, nên không ghi nhận được ý kiến.
Toà án xác minh anh Nguyễn Tuấn Y (anh rể của Lê Thị Mỹ T) trình bày: Vợ chồng T – Anh sinh sống ở gần nhà của anh. Anh thấy họ thường xuyên cự cãi nguyên nhân do Trung A có mối quan với người phụ nữ khác bên ngoài, T là phụ nữ nhưng là lo toàn bộ kinh tế của gia đình, lo công ăn việc làm cho Trung A đi làm ở Thành phố Hồ Chí Minh. Được biết vợ chồng T ly thân từ tháng 11/2024 đến nay. Thi thoảng anh có thấy Trung A về thăm T nhưng khoảng đầu năm 2025 đến nay thì không thấy về nữa.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân
Về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham dự phiên tòa, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Qua đó, cho thấy bị đơn đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quan điểm giải quyết vụ án: Về hôn nhân, chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Mỹ T được ly hôn với anh Nguyễn Trung A. Về con chung: giao con chung tên Nguyễn Đình N, sinh ngày 01/10/2023 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, anh Trung A không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét. Chị T phải chịu án phí hôn nhân theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về tố tụng:
- [1.1]Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn về việc ly hôn và bị đơn có nơi cư trú tại xã H, huyện P, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết vụ án hôn nhân gia đình “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố Tụng dân sự.
- [1.2]Về sự vắng mặt của các đương sự: Anh Nguyễn Trung A đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Trung A.
- [2] Về nội dung:
- [2.1] Về yêu cầu ly hôn: Chị T và anh Trung A là vợ chồng có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình chung sống không hạnh phúc, nguyên nhân do chị T nghi ngờ anh Trung A không chung thuỷ nên xảy ra cự cãi, vợ chồng thường sống xa nhau do anh Trung A đi làm ở thành phố Hồ Chí Minh, kinh tế gia đình chủ yếu do chị T lo toan, đã ly thân từ tháng 11/2024 đến nay. Tòa án đã triệu tập anh Trung A để tham gia hòa giải, xét xử nhưng đều không đến, chị T cương quyết ly hôn nên chấp nhận cho chị T được ly hôn với anh Trung A là phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- [2.2] Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Đình N, sinh ngày 01/10/2023 do chị T đang nuôi dưỡng sau khi ly thân. Cháu N dưới 36 tháng tuổi, để đảm bảo môi trường phát triển của con được ổn định, thuận lợi trong việc học tập, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình tiếp tục giao Nguyễn Đình N cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị T tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nên anh Trung A không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Vì lợi ích của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.
- [2.3] Về tài sản chung: Không có. Về nợ chung: Chị T xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị T và anh Trung A phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.
- [3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng, anh Trung A không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Mỹ T.
- Về hôn nhân: Chị Lê Thị Mỹ T được ly hôn với anh Nguyễn Trung A.
- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Đình N, sinh ngày 01/10/2023 cho chị Lê Thị Mỹ T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng đến khi thành niên và lao động được. Anh Nguyễn Trung A không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Trung A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, các thành viên gia đình không được cản trở trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung.
Vì lợi ích của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: không có. Nợ chung: không có.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Lê Thị Mỹ T phải chịu án phí hôn nhân gia đình 300.000 đồng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0011878 ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân. Anh Nguyễn Trung A không phải chịu án phí.
Chị Lê Thị Mỹ T có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trung A vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
THƯ KÝ PHIÊN TÒA Nguyễn Thái Ngọc |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhung |
Bản án số 274/2025/HNGĐ-ST ngày 27/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 274/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Lê Thị Mỹ Trâm được ly hôn với anh Nguyễn Trung Anh.Giao con chung tên Nguyễn Đình Nghi, sinh ngày 01/10/2023 cho chị Lê Thị Mỹ Trâm tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng đến khi thành niên và lao động được. Anh Nguyễn Trung Anh không phải cấp dưỡng nuôi con.
