|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 274/2025/HNGĐ-ST
Ngày 12-6-2025
Về tranh chấp: Ly hôn, nuôi con chung
giữa chị Nguyễn Thị Thu Huyền
và anh Đỗ Quang Hùng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Mạnh Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Ngô Kim Thành.
- Bà Trịnh Thị Lan.
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Huyền Thương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 215/2025/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1994; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú: 2 V, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: I ngõ A T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Bị đơn: Anh Đỗ Quang H1, sinh năm 1970; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: số C khu Q, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa chị H, anh H1 vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện đề ngày 03-3-2025, bản tự khai ngày 14-5-2025 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đỗ Quang H1 được hai bên gia đình tổ chức cưới theo phong tục tập quán vào đầu năm 2017 nhưng đến ngày 13-7-2017 hai bên mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do cuộc sống chung nảy sinh nhiều bất đồng, không hòa hợp nhau về tính cách, không bảo ban được nhau trong cuộc sống nên thường xuyên xảy ra va chạm. Mặc dù hai bên đã cố gắng khắc phục mâu thuẫn nhiều lần nhưng không có kết quả nên mâu thuẫn ngày càng căng thẳng trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2024 cho đến nay, mỗi người ở một nơi không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn đoàn tụ được nữa nên chị đề nghị Toà án giải quyết ly hôn với anh Đỗ Quang H1.
Về con chung: Chị và anh Đỗ Quang H1 có 01 con chung là Đỗ Tiến Đ, sinh ngày 14-10-2017 (giới tính: Nam). Chị có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đỗ Tiến Đ.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị và anh H1 không có tài sản chung và không có công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 22-5-2025, bị đơn anh Đỗ Quang H1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Thu H đăng ký kết hôn tháng 7-2017 tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do không hòa hợp, bất đồng quan điểm. Đến nay mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng, chị H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, anh nhất trí ly hôn.
Về con chung: Anh và chị H có 01 con chung tên là Đỗ Tiến Đ, sinh ngày 14-10-2017 (giới tính: Nam). Từ khi vợ chồng cháu sống ly thân Đ đang ở với mẹ, nay ly hôn anh nhất trí để chị H tiếp tục nuôi dưỡng cháu. Về cấp dưỡng nuôi con hai bên sẽ tự thỏa thuận giải quyết với nhau.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh và chị H không có tài sản chung và không có công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Tại biên bản xác minh ngày 15-5-2025 tại phường C, thành phố N cung cấp: Anh Đỗ Quang H1 có địa chỉ cư trú tại số C khu Q, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định. Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Đỗ Quang H1 đăng ký kết hôn ngày 13-7-2017 tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định. Trong quá trình chung sống vợ chồng nảy sinh nhiều bất đồng, không hoà hợp về tính cách, hiện nay hai bên đã sống ly hôn không còn chung sống với nhau nữa. Chị H và anh H1 có một con chung là cháu Đỗ Tiến Đ, sinh ngày 14-10-2017 (Giới tính: Nam) từ khi vợ chồng sống ly thân cháu Đ ở với mẹ là chị Nguyễn Thị Thu H.
4. Tại biên bản ghi nguyện vọng của con chung ngày 14-5-2025 cháu Đỗ Tiến Đ trình bày: Cháu là con mẹ Nguyễn Thị Thu H và bố Đỗ Quang H1, nay bố mẹ cháu ly hôn cháu có nguyện vọng ở với mẹ.
5. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ theo Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự.
Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng nhiệm vụ quyền hạn theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
Về việc giải quyết vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị Thu H và anh Đỗ Quang H1 đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu H.
- Về con chung: Căn cứ vào các quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình giao chị Nguyễn Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con chung là Đỗ Tiến Đ, sinh ngày 14-10-2017 (giới tính: Nam).
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chấp nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Thu H không yêu cầu anh Đỗ Quang H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
1.1 Về thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị Thu H có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn và nuôi con chung với anh Đỗ Quang H1. Xét thấy, tranh chấp giữa chị Nguyễn Thị Thu H và anh Đỗ Quang H1 là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Đỗ Quang H1 có nơi đăng ký thường trú và cư trú tại số C khu Q, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định nên căn cứ Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
1.2 Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H và bị đơn anh Đỗ Quang H1 vắng mặt tại phiên toà nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Nguyễn Thị Thu H và anh Đỗ Quang H1.
[2] Về nội dung vụ án:
2.1 Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Đỗ Quang H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định vào ngày 13-7-2017 nên là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do cuộc sống chung nảy sinh nhiều bất đồng không hòa hợp nên thường xuyên xảy ra va chạm. Hai bên cũng đã cố gắng khắc phục mâu thuẫn nhưng không có kết quả nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh H1 mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thu H và anh Đỗ Quang H1.
2.2 Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Đỗ Quang H1 có 01 con chung là Đỗ Tiến Đ, sinh ngày 14-10-2017 (giới tính: Nam). Chị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Đỗ Tiến Đ và không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy, từ khi vợ chồng sống ly thân chị H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đỗ Tiến Đ, cháu Đ cũng có lời khai trình bày nguyện vọng muốn được ở với mẹ nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cho chị Nguyễn Thị Thu H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Đỗ Tiến Đ, sinh ngày 14-10-2017.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con chung.
2.3 Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Đỗ Quang H1 cùng xác nhận không có tài sản chung và không có công nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị Nguyễn Thị Thu H là nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thu H và anh Đỗ Quang H1.
2. Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Đỗ Tiến Đ, sinh ngày 14-10-2017 (giới tính: Nam).
Về cấp dưỡng nuôi con: Chấp nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Thu H không yêu cầu anh Đỗ Quang H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Đỗ Quang H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thu H nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị Nguyễn Thị Thu H đã nộp tại biên lai số 0002793 ngày 08-5-2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
4. Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Thu H, anh Đỗ Quang H1 có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Mạnh Hà |
Bản án số 274/2025/HNGĐ-ST ngày 12/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 274/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thu Huyền - Đỗ Quang Hùng ly hôn
