|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 274/2024/HS-ST Ngày 20-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Huỳnh Văn Ái;
Các Hội thẩm nhân dân: ông Phan Thành Phương và Trần Công .
- Thư ký phiên tòa: ông Chiêm Tiền Quí Nhân-Thư ký Tòa án nhân dân
quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Hương-Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 208/2024/TLST-HS, ngày 04 tháng 7 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 371/2024/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn C, sinh năm 1968, tại tỉnh Tiền Giang. Nơi thường trú: Tổ B, Ấp I, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước; nơi ở: không ổn định; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (chết) và bà Phạm Thị T (chết); có vợ và 02 con, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1992; tiền án, tiền sự: không có (đầu thú theo Quyết định truy nã tại Công an phường A, quận B vào ngày 14/9/023); bị bắt tạm giam ngày 25-7-2024 cho đến nay “có mặt”.
*Bị hại: ông Bùi Tấn L1, sinh năm 1949. Nơi thường trú và cư trú trước đây: nhà số C, đường H, Khóm G, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (chết).
Người đại diện hợp pháp cho ông L1: bà Vũ Thị M, sinh năm 1954. Nơi thường trú và cư trú hiện nay: nhà số C, đường H, Khóm G, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vợ ông L1) “xin vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn C cùng với các anh Văn T1 và Lâm Tuấn K làm nghề đón khách cho các xe khách tại trước Cửa hàng N-Khu phố B, thị trấn A, huyện B (nay là phường A, quận B và đối diện cổng Bến xe M) để hưởng tiền công từ chủ xe thì: lúc khoảng 12 giờ 30 phút ngày 07/11/1999, xe khách biển số 67L- 1730 về L đến dừng lại để đón khách. Lúc này, C thấy ông Bùi Tấn L1 tiến gần nên hỏi ông L1 đi về đâu; ông L1 trả lời đi về L nên C dẫn ông L1 lên xe, còn anh K đi theo sau, riêng anh T1 không lên xe. Trong lúc C đi sau ông L1 lên xe nhìn thấy trong túi quần bên phải của ông L1 01 xấp tiền có mệnh giá 50.000 đồng nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Lúc ông L1 đang chuẩn bị ngồi xuống ghế xe thì C liền dùng tay trái móc lấy được xấp tiền của ông L1 rồi xuống xe bỏ đi. Sau đó, do nghe tin ông L1 đến Công an thị trấn A trình báo và thấy Công an đến hiện trường làm việc nên C đã nhờ anh T1 mang toàn bộ số tiền 2.000.000 đồng lấy được của ông L1 đến giao nộp lại cho Công an thị trấn A rồi mới đến Công an thị trấn A trình diện sau (ngày 11/11/1999) và thừa nhận toàn bộ hành vi như vừa đã nêu trên. Sau khi tiếp nhận sự việc và lập hồ sơ xử lý ban đầu xong, Công an thị trấn A đã chuyển cho Cơ quan điều tra-Công an huyện B giải quyết theo thẩm quyền. Đến ngày 20/12/1999, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam đối với C, nhưng do C đã bỏ trốn nên Ngày 20/4/2000, Cơ quan điều tra ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra bị can và ra Lệnh truy nã đối với C cho đến ngày 14/9/2023 thì C đến Công an phường A, quận B đầu thú. Trong quá trình điều tra, đã xác định: C là người chiếm đoạt số tiền 2.000.000 đồng của ông L1 và đã giao trả lại cho ông L1. Riêng các anh T1 và K đều không ai liên quan gì đến hành vi của C.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn C đã khai nhận: trong thời gian bị cáo làm nghề đón khách cho các xe khách tại trước Cửa hàng Nông ngư cơ, thuộc khu phố B, thị trấn A, huyện B để hưởng tiền công từ chủ xe thì: bị cáo có đưa 01 người khách là ông Bùi Tấn L1 lên xe về L. Do lúc bị cáo đi phía sau đưa ông L1 lên xe đã nhìn thấy trong túi quần bên phải của ông L1 01 xấp tiền có mệnh giá 50.000 đồng nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Khi đó, bị cáo vừa thấy ông L1 đang chuẩn bị ngồi xuống ghế xe thì bị cáo liền dùng tay trái móc lấy được xấp tiền của ông L1 rồi xuống xe bỏ đi. Nhưng do nghe tin ông L1 đến Công an thị trấn A trình báo và thấy Công an đến hiện trường làm việc nên bị cáo có nhờ anh T1 mang toàn bộ số tiền 2.000.000 đồng lấy được của ông L1 đến giao nộp lại cho Công an thị trấn A. Sau đó, bị cáo có đến Công an thị trấn A trình diện rồi mới bỏ trốn truy nã. Riêng các anh T1 và K đều không liên quan gì đến hành vi của bị cáo nên nay bị cáo thừa nhận chỉ có một mình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Đồng thời, không có ý kiến gì về trách nhiệm dân sự và việc giải quyết vật chứng.
Tại Cáo trạng số: 197/CT-VKS, ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C ra trước Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử về “Tội trộm cắp tài sản của công dân”, theo khoản 1 Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 1985.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận có ý kiến: bị cáo Nguyễn Văn C đã có hành vi lén lút chiếm đoạt trái phép tài sản là số tiền 2.000.000 đồng của ông Bùi Tấn L1. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần phải xử bị cáo với mức án thật nghiêm. Tuy nhiên, bị cáo đã thật thà khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nghĩ nên xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Do đó, giữ nguyên quyết định đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 155; điểm d, h khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 1985; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo với mức án từ 06 tháng đến 01 năm tù về “Tội trộm cắp tài sản của công dân”. Về trách nhiệm dân sự và vật chứng, do đã được giải quyết xong nên không có ý kiến.
Bị cáo không tranh luận và bào chữa gì về hành vi đã bị truy tố; còn lời nói sau cùng thì xin giảm nhẹ mức hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra-Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo Nguyễn Văn C tại phiên tòa hôm nay cho thấy: vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 07/11/1999, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt trái phép tài sản là số tiền 2.000.000 đồng của ông Bùi Tấn L1 tại xe khách biển số 67L-1730 đang dừng đỗ trước Cửa hàng N-Khu phố B, thị trấn A, huyện B (nay là phường A, quận B và đối diện cổng Bến xe M). Xét, do hành vi phạm tội của bị cáo xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 và điều khoản quy định về mức hình phạt tù của “Tội trộm cắp tài sản của công dân” cùng với tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Bộ luật Hình sự năm 1985; năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2010 so với điều khoản tương ứng của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì có lợi hơn cho bị cáo nên cần phải áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1985 để xét xử bị cáo theo quy định tại Nghị quyết số: 41/2017/QH14, ngày 20/6/2017 của Quốc hội. Do đó, bị cáo Nguyễn Văn C đã phạm “Tội trộm cắp tài sản của công dân”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 1985.
[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai trước đây tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại, những người biết việc, vật chứng thu giữ được...cùng với tài liệu chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ nên đã đủ chứng cứ buộc tội bị cáo và lời đề nghị của Kiểm sát viên vừa nêu trên là có cơ sở chấp nhận. Riêng đối với các anh T1 và K thì đều không ai liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị cáo nên không xét là có căn cứ chấp nhận.
[4] Xét, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của người khác để thực hiện hành vi chiếm đoạt trái phép tài sản là không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương; bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích có tiền để thỏa mãn cho nhu cầu tiêu xài của cá nhân rồi trốn truy nã trong một thời dài nên cần phải xử bị cáo với mức án thật nghiêm và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra thì mới có đủ sức giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay: bị cáo đã thật thà khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần được xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm d, h khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 1985.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 1985 thì do không có điểm khoản nào quy định về phạt bổ sung đối với bị cáo nên không xét.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Xét tại phiên tòa hôm nay, tuy người đại diện hợp pháp cho ông Bùi Tấn L1 (chết) có bà Vũ Thị M (vợ ông L1) đã đơn xin vắng mặt, nhưng theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ nội dung đơn thì: do ông L1 đã được nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và bà M không yêu cầu gì thêm nên không xét.
[7] Về vật chứng: số tiền 2.000.000 đồng (loại tiền có mệnh giá 50.000 đồng) của ông Bùi Tấn L1 bị chiếm đoạt, Công an thị trấn A, huyện B đã thu hồi và giao trả lại cho ông L1 nên không xét.
[8] Bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về căn cứ điều luật và xử phạt:
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 155; điểm d, h khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 1985; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 41/2017/QH14, ngày 20/6/2017 của Quốc hội.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 06 (sáu) tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản của công dân”, thời hạn tù tính từ ngày 25-7-2024.
-
Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố
tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Bị cáo Nguyễn Văn C phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: căn cứ vào các điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng
Hình sự năm 2015.
- Bị cáo Nguyễn Văn C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp cho bị hại ông Bùi Tấn L1 là bà Vũ Thị M vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - VKSND TP. HCM; - Sở Tư pháp TP. HCM; - VKSND Q.BT;- CQĐT-CA Q.BT; - Nhà tạm giữ-CA Q.BT; - Chi cục THA DS Q.BT; - Trại tạm giam; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo, bị hại; - Người tham gia tố tụng khác (nếu có); - Lưu hs, Vp. |
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Văn Ái |
Bản án số 274/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tội trộm cắp tài sản của công dân
- Số bản án: 274/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội trộm cắp tài sản của công dân
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn C “Tội trộm cắp tài sản của công dân”
