Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 274/2024/HS-PT

Ngày: 22 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết

Các Thẩm phán: Ông Phạm Công Mười

Bà Bùi Thị Thu

Thư ký phiên tòa: Ông Đàm Lê Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 841/2023/TLPT-HS ngày 23 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Võ Văn T do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2023/HSST ngày 28/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1358/2024/QĐPT-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024, đối với:

* Bị cáo: Võ Văn T; sinh năm 1979, tại thành phố Đà Nẵng. Nơi đăng ký thường trú: Tổ F, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Kinh doanh. Trình độ học vấn: lớp 12/12. Dân tộc: Kinh, Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Võ Văn Đ, sinh năm 1932 và con bà Trần Thị H, sinh năm 1946. Gia đình có 03 chị em, bị cáo là người thứ hai, có vợ tên Nguyễn Thị P, sinh năm 1977, có 03 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 17/11/1999 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận P, Thành Phố Hồ Chí Minh khởi tố bị cáo đối với Võ Văn T về tội “Cướp tài sản”; Đến ngày 10/12/1999 ra Quyết định đình chỉ điều tra bị cáo đối với T; Ngày 22/7/2010 Tòa án nhân dân quận Hải Châu tuyên phạt Võ Văn T 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị bắt ngày 24/02/2020. Hiện bị cáo đang chấp hành án tại trại giam X (Không triệu tập).

* Bị hại: Ông Yap Wee C, (tên thường gọi là Albert Y), sinh năm 1966, tại Malaysia; Cư trú tại: số G, T, phường B, Quận E, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền cho bị hại: có Luật sư Trương Quốc Q, thuộc chi nhánh Công ty L3, Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt)

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được Tòa triệu tập:

  1. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1977; Nơi cư trú: 2 Y, phường B, Quận T, thành Phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
  2. Ông Đào Quốc K, sinh năm 1994; Nơi cư trú: 362/1, N, quận H, thành phố Đ (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  3. Ông Đặng Tuấn K1, sinh năm 1993; Nơi cư trú: 4, đường số A, phường C, Quận G, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
  4. Bà Mai Khánh N, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện M, tỉnh Long An (vắng mặt)
  5. Ông Lê Song T1, sinh 1976; Nơi cư trú: Lô K, Chu Văn A, phường B, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
  6. Bà Phạm Thị L, sinh năm 1988; Nơi cư trú: 1615, ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt)
  7. Ông Nguyễn Quang L1, sinh năm 1969; Nơi cư trú: ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt)
  8. Bà Phạm Thị Hồng P1; Trú tại: Công ty cổ phần A2, số B, QL13, phường H, thành phố T, Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
  9. Ông Nguyễn Đức T2, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Khóm A, Phường A, huyện D, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt)
  10. Ông Cao Văn N1, sinh năm 1974; Nơi cư trú: 21A, Lầu A, P, phường A, Quận E, thành phố Hồ Chí Minh. Ông N1 ủy quyền cho ông: Trần Văn H1, sinh năm 1965, cư trú tại: B N, tổ E, khu phố D, phường T, TP . (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Văn T là Chủ tịch hội đồng quản trị, kiêm người đại diện theo pháp luật và kiêm Giám đốc Công ty Cổ phần Đ2 (gọi tắt là Công ty Đ2). Ngày 16/12/2014 UBND tỉnh Đ ra Quyết định số 3963/QĐ-UBND về việc thành lập cụm Công nghiệp cơ khí vật liệu xây dựng và chế biến nông sản P3, tại xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (UBND huyện T là chủ đầu tư) và ngày 13/01/2017 UBND tỉnh Đ phát hành Công văn số 407/UBND-ĐT về việc thỏa thuận địa điểm cho Công ty Đ2. Ngày 15/01/2019 UBND tỉnh Đ ra Quyết định số 168/QĐ-UBND về việc sửa đổi bổ sung Quyết định số 3963/QĐ-UBND ngày 16/12/2014 của UBND tỉnh về việc thành lập lập cụm Công nghiệp cơ khí vật liệu xây dựng và chế biến nông sản P3, huyện T, tỉnh Đồng Nai thành "Cụm C huyện T, tỉnh Đồng Nai” và giao cho Công ty Đ2 làm chủ đầu tư dự án, đồng thời yêu cầu đến năm 2020 là phải thực hiện xong tiến độ bồi thường giải phóng mặt bằng, thiết kế kỹ thuật và tổ chức thi công hoàn chỉnh hệ thống hạ tầng kỹ thuật. Tuy nhiên, sau nhiều lần góp ý và điều chỉnh hồ sơ thì đến nay dự án Cụm C do Công ty Đ2 làm chủ đầu tư vẫn chưa được UBND tỉnh Đ chấp thuận Quyết định chủ trương đầu tư, do đó đến nay tiến độ giải phóng mặt bằng và triển khai thực hiện hạ tầng kỹ thuật dự án vẫn chưa thực hiện.

Ngày 20/01/2018, thông qua ông Lê Song T1 giới thiệu, Võ Văn T ký Hợp đồng hợp tác đầu tư số 01-HTĐT/2018 về “Dự án trang trại nuôi Y1 và khu du lịch sinh thái tại xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai” với ông Yap Wee C (tên gọi khác Albert Yap). Theo thỏa thuận tại hợp đồng thì Công ty Đ2 đứng pháp nhân có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị UBND huyện T, UBND tỉnh Đ phê duyệt quyết định giao đất, quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư dự án, làm thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy phép xây dựng và đề xuất các ưu đãi về thuế hỗ trợ doanh nghiệp. Nhiệm vụ của ông Yap Wee C là đảm bảo nguồn tài chính giao cho Võ Văn T để xin dự án và triển khai thực hiện dự án nêu trên.

Sau khi ký hợp đồng hợp tác đầu tư với ông Yap Wee C, tháng 4 năm 2018 Công ty Đ2 gửi “Hồ sơ xin quyết định chủ trương đầu tư” đến Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đ để xin phép đầu tư trang trại nuôi chim Y1 và chế biến sản phẩm từ Y1. Ngày 17/4/2018 Sở Kế hoạch và Đầu tư có văn bản số 1350/SKHĐT-KTN tham mưu UBND tỉnh Đ chỉ đạo các Sở - Ngành liên quan tiến hành khảo sát đánh giá và cho ý kiến (gồm: Sở T7; Sở Xây dựng; Sở G; Sở T8; Sở N2; Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh). Sau khi tổng hợp các ý kiến đánh giá của các Sở, ngành, ngày 28/5/2018 Sở Kế hoạch và Đầu tư đã có văn bản số 1956/SKHĐT-KTN, báo cáo UBND tỉnh Đ và thông báo cho Công ty Đ2 biết vị trí của dự án chưa phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch nông thôn mới đã được duyệt, hiện nay chưa có quy định đối với việc nhập khẩu trứng Y1 để ấp nở và nuôi. Mặt khác chim Y1 chưa có trong danh mục giống vật nuôi được sản xuất kinh doanh tại Việt Nam, đồng thời nhà đầu tư là Công ty Đ2 chưa chứng minh được năng lực tài chính để thực hiện dự án. Từ cơ sở nội dung văn bản nêu trên, ngày 11/6/2018 UBND tỉnh Đ có văn bản số 5990/UBND-CNN xác định: UBND tỉnh không có cơ sở xem xét chấp thuận quyết định chủ trương đầu tư dự án. Mặc dù nhận được các văn bản thông báo, xác nhận nội dung như trên nhưng Võ Văn T vẫn tiếp tục ký các văn bản số 20/CV-QL ngày 12/6/2018 và văn bản số 30/CV-QL ngày 10/9/2018 đề nghị UBND tỉnh Đ điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đối với diện tích đất dự kiến thực hiện dự án, hoặc xem xét chấp thuận chủ trương đầu tư dự án trước để Công ty triển khai các bước liên quan trong khi chờ điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất của huyện T được phê duyệt. Tuy nhiên tại các Văn bản số 3511/SKHĐT-KTN ngày 07/9/2018 và Văn bản số 3834/SKHĐT-KTN ngày 02/10/2018 do Sở Kế hoạch và Đầu tư báo cáo tham mưu UBND tỉnh Đ gửi Công ty Đ2 đã tiếp tục xác định là chưa có cơ sở xem xét chấp thuận chủ trương đầu tư đối với dự án nêu trên. Đến ngày 08/4/2019, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đ tiếp tục có Văn bản số 1231/SKHĐT-KTN báo cáo và kiến nghị UBND tỉnh Đ tạm ngưng xử lý hồ sơ của Công ty Đ2.

Tuy dự án nuôi Y1 chưa được được cấp giấy phép hoạt động và xây dựng xong, nhưng Võ Văn T đã bàn bạc với ông Y Wee Chong thành lập Công ty cổ phần S (gọi tắt là Công ty S), trụ sở chính tại khu G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, ngành nghề kinh doanh chính là Xây dựng công trình, dịch vụ ăn uống, kiến trúc tư vấn và Chăn nuôi gia cầm..., do bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1977 (vợ T) đứng tên đại diện theo Pháp luật, kiêm Chủ tịch hội đồng quản trị, kiêm Giám đốc và được Sở Kế hoạch và đầu tư cấp giấy phép kinh doanh hoạt động ngày 01/3/2018.

Do ông Yap Wee C chưa có tài khoản riêng tại Việt Nam, nên từ ngày 31/01/2018 đến ngày 03/10/2018 ông C đã mượn tài khoản của các ông, bà Kim Sim P2, Nguyễn Thụy Trâm A1, Lê Song T1, Lê Hồng T3 và ông Phan Lê Anh K2 để cung cấp tài chính chuyển tổng cộng 22.185.592.000đ (Hai mươi hai tỷ một trăm tám mươi lăm triệu năm trăm chín mươi hai nghìn đồng) cho Võ Văn T để thực hiện dự án.

Trong thời gian từ ngày 31/01/2018 đến ngày 03/10/2018 Võ Văn T viện lý do cần tiền để thực hiện gấp dự án để nhiều lần hối thúc ông Yap W C chuyển tiền cho T. Để ông Yap Wee C tin tưởng rằng dự án đã được phê duyệt, Võ Văn T đã chuẩn bị các tài liệu, Công văn giả như: Giấy nộp tiền sử dụng đất vào Kho bạc Nhà nước huyện T 8.286.899.264₫ (Tám tỷ hai trăm tám mươi sáu triệu tám trăm chín mươi chín triệu hai trăm sáu mươi bốn đồng); Giấy Ủy nhiệm chi ngày 07/8/2018 do Công ty Đ2 nộp 9.573.600.000₫ (Chín tỷ năm trăm bảy mươi ba triệu sáu trăm nghìn đồng) vào Kho bạc nhà nước tỉnh Đ để ký quỹ thực hiện dự án trang trại nuôi Y1 tại xã N; Văn bản số 6149/UBND-ĐT ngày 20/8/2018 do Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đ ký về việc chấp thuận chủ trương đầu tư dự án trang trại nuôi yến công nghệ cao xuất khẩu tại xã N. Sau đó, T dùng điện thoại di động có số thuê bao 0918.888386 do T đăng ký sử dụng chụp hình các tài liệu, văn bản giả nêu trên, rồi dùng ứng dụng tài khoản Viber có tên hiển thị là Võ Văn T cài đặt trên điện thoại di động cá nhân số thuê bao 0918.888386 gửi cho ông Lê Song T1 (trợ lý của Yap W). Ông T1 không biết các các tài liệu, văn bản này là giả, nên đã chuyển lại cho ông Yap W Chong xem, ông C nghĩ rằng các tài liệu, văn bản giả này là thật và tin tưởng T đã xin được Quyết định, chủ trương cho đầu tư dự án trang trại nuôi Y1 tại xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai, nên từ ngày 31/01/2018 đến ngày 03/10/2018 ông Yap Wee C đã nhiều lần chuyển tiền cho Võ Văn T, cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Ngày 31/01/2018, ông Y2 chuyển 1.820.000.000đ (Một tỷ tám trăm hai mươi triệu đồng) vào tài khoản số 1080.0029.8382 của Công ty Đ2. Cùng ngày T đã ký SEC số AA0024295 giao cho nhân viên kế toán Mai Khánh N ghi nội dung, số tiền vào tờ SEC và đến Ngân hàng Đ3 - Chi nhánh G1 rút 1.555.000.000đ (Một tỷ năm trăm năm mươi lăm triệu đồng) tiền mặt và ký hai Ủy nhiệm chi (không số) chuyển khoản 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) cho Công ty C1 - Hải Phòng và chuyển khoản 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) cho Công ty T9 để thanh toán phí vận chuyển thép từ Hải Phòng vào Sóc Trăng phục vụ dự án xây dựng nhà máy N3 tại tỉnh Sóc Trăng. Đồng thời T yêu cầu Đào Quốc K ký Ủy nhiệm chi chuyển khoản 65.464.742đ (Sáu mươi lăm triệu bốn trăm sáu mươi bốn nghìn bảy trăm bốn mươi hai đồng) cho Công ty Đại Quang Minh - Thành Phố H để thanh toán phí dịch vụ bảo vệ.

- Lần thứ hai: Ngày 20/3/2018, ông Y2 chuyển 6.120.000.000đ (Sáu tỷ một trăm hai mươi triệu đồng) vào tài khoản số 1060.0046.3066 của Công ty S. Cùng ngày T ký Ủy nhiệm chi (không số) chuyển khoản số tiền trên vào tài khoản Công ty Đ2, đồng thời ký SEC số AA0025507 giao cho nhân viên kế toán Đặng Tuấn K1 đến Ngân hàng Đ3 - Chi nhánh G1 rút 6.120.000.000₫ (Sáu tỷ một trăm hai mươi triệu đồng) tiền mặt mang về giao cho T tiêu xài hết vào mục đích cá nhân, nhưng không cung cấp được chứng từ tài liệu để chứng minh sử dụng số tiền nói trên.

- Lần thứ ba: Ngày 23/3/2018, ông Y2 chuyển 2.500.000.000₫ (Hai tỷ năm trăm triệu đồng) vào tài khoản Công ty S. Cùng ngày T ký ba giấy Ủy nhiệm chi (không số) chuyển khoản hết số tiền nói trên sang tài khoản Công ty Đ2 với lý do thanh toán phí khảo sát địa hình là 250.000.000₫ (Hai trăm năm mươi triệu đồng), phí tạm ứng là 1.590.000.000đ, phí quy hoạch 1/2000 là 660.000.000₫ (Sáu trăm sáu mươi triệu đồng). Đồng thời cùng ngày T ký SEC số AA 0025509 giao cho nhân viên kế toán Đặng Tuấn K1 đến Ngân hàng Đ3 - Chi nhánh G1 rút 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng) tiền mặt mang về giao cho T sử dụng vào mục đích cá nhân. Đến ngày 26/3/2018 T ký ba giấy Ủy nhiệm chi (không số) chuyển 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) tiền cọc hợp đồng mua bán với Công ty A3; chuyển 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng) trả nợ cho Ngân hàng V1 - Chi nhánh Thành Phố H do Công ty Đ2 vay trước đó; chuyển khoản 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) cho Công ty C1 - Hải Phòng thanh toán phí vận chuyển do Công ty Đ2 thuê vận chuyển trước đó. Mặt khác T yêu cầu Đào Quốc K ký SEC số AA 0025511 và giao cho nhân viên văn phòng Hoàng Thị T4 đến Ngân hàng Đ3 - Chi nhánh G1 rút 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) tiền mặt mang về giao cho Võ Văn T sử dụng vào mục đích cá nhân.

- Lần thứ tư: Ngày 21/5/2018, ông Yap W Chong chuyển 870.000.000₫ (T5 trăm bảy mươi triệu đồng) vào tài khoản Công ty S. Cùng ngày T tự ký SEC số AA 0027891 giao cho nhân viên kế toán Đặng Tuấn K1 đến Ngân hàng Đ3 - Chi nhánh G1 rút 870.000.000đ (Tám trăm bảy mươi triệu đồng) tiền mặt mang về giao cho Võ Văn T sử dụng vào mục đích cá nhân.

- Lần thứ năm: Ngày 6/6/2018, ông Yap W Chong chuyển 5.244.092.000₫ (Năm tỷ hai trăm bốn mươi bốn triệu không trăm chín mươi hai nghìn đồng) vào tài khoản của Công ty S. Cùng ngày T ký Giấy rút tiền (không số) kèm theo Giấy giới thiệu giao cho Nhân viên kế toán Đặng Tuấn K1 đến Ngân hàng Đ3 - Chi nhánh G1 rút 5.240.000.000đ (Năm tỷ hai trăm bốn mươi triệu đồng) tiền mặt mang về giao cho T sử dụng vào mục đích cá nhân.

- Lần thứ sáu: Ngày 21/6/2018, ông Yap W Chong chuyển 532.500.000₫ (Năm trăm ba mươi hai triệu, năm trăm nghìn đồng) vào tài khoản Công ty S. Ngày 22/6/2018 T ký SEC số AA0027893 giao cho nhân viên kế toán Đặng Tuấn K1 đến Ngân hàng Đ3 - Chi nhánh G1 rút 490.000.000₫ (Bốn trăm chín mươi triệu đồng) tiền mặt, đến ngày 10/7/2018 T tiếp tục ký SEC số AA0027895 giao cho Đặng Tuấn K1 đi rút 49.000.000đ (Bốn mươi chín triệu đồng) tiền mặt. Tất cả số tiền trên K1 mang về giao cho T sử dụng vào mục đích cá nhân.

- Lần thứ bảy: Ngày 26/7/2018, ông Y2 chuyển 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng) vào tài khoản Công ty S. Cùng ngày T ký Giấy rút tiền (không số) giao cho nhân viên kế toán Đặng Tuấn K1 đến Ngân hàng Đ3 - Chi nhánh G1 rút 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng) tiền mặt mang về giao cho T sử dụng vào mục đích cá nhân.

- Lần thứ tám: Ngày 27/7/2018, ông Y2 chuyển 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng) vào tài khoản Công ty S. Cùng ngày T ký Ủy nhiệm chi (không số) để chuyển khoản 1.200.000.000đ (Một tỷ hai trăm triệu đồng) vào tài khoản Công ty Đ2, sau đó tiếp tục ký Ủy nhiệm chi (không số) chuyển khoản 1.200.000.000đ (Một tỷ hai trăm triệu đồng) cho ông Trần Việt H2 - T, B, Đồng Nai để thanh toán tiền mua thửa đất số 168 tại xã N; đồng thời T ký Giấy rút tiền (không số) giao cho nhân viên kế toán Đặng Tuấn K1 đến Ngân hàng Đ3 - Chi nhánh G1 rút 800.000.000₫ (Tám trăm triệu đồng) tiền mặt mang về giao cho T sử dụng vào mục đích cá nhân.

- Lần thứ chín: Ngày 6/8/2018, ông Y2 chuyển 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng) vào tài khoản Công ty S. Cùng ngày T ký Giấy rút tiền giao cho nhân viên kế toán Đặng Tuấn K1 đến Ngân hàng Đ3 - Chi nhánh G1 rút 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng) tiền mặt mang về giao cho T sử dụng vào mục đích cá nhân.

- Lần thứ 10: Ngày 3/10/2018, ông Yap W Chong chuyển 99.000.000₫ (Chín mươi chín triệu đồng) vào tài khoản Công ty S. Cùng ngày T ký Giấy rút tiền (không số) giao cho nhân viên kế toán Đặng Tuấn K1 đến Ngân hàng Đ3 - Chi nhánh G1 rút 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) tiền mặt mang về giao cho T sử dụng vào mục đích cá nhân.

Như vậy để nhận được tiền của ông Yap Wee C thì Võ Văn T đã sử dụng các giấy nộp tiền và văn bản giả thể hiện việc UBND tỉnh cho phép thực hiện dự án trang trại nuôi chim Y1, nhưng thực tế UBND tỉnh Đ đã nhiều lần trả lời và xác định “...vị trí mục tiêu của dự án không phù hợp quy hoạch, hồ sơ dự án của Công ty Đ2 chưa đảm bảo năng lực tài chính và phương án huy động vốn để thực hiện dự án..”, nhưng Võ Văn T vẫn gửi các văn bản giả cho ông Y Wee Chong làm cho ông Yap W Chong tin tưởng là thật để nhiều lần chuyển tiền vào tài khoản của Công ty Đ2 và Công ty S nhằm mục đích lừa đảo chiếm đoạt tiền của ông Yap Wee C. Sau khi nhận được tiền vào tài khoản thì Võ Văn T đã ký SEC và Giấy rút tiền giao cho nhân viên đi rút tiền mặt với tổng số tiền là 20.219.000.000đ (Hai mươi tỷ hai trăm mười chín triệu đồng); T đã ký Ủy nhiệm chi để chuyển khoản giải quyết việc riêng là 1.800.000.000đ (Một tỷ tám trăm triệu đồng), trong đó có chuyển khoản mua thửa đất số 168 là 1.200.000.000đ (Một tỷ hai trăm triệu đồng). Bên cạnh đó T yêu cầu Đào Quốc K ký Ủy nhiệm chi số tiền là 65.464.742đ (Sáu mươi lăm triệu bốn trăm sáu mươi bốn nghìn bảy trăm bốn mươi hai đồng) để thanh toán phí dịch vụ và ký Giấy rút tiền mặt với số tiền là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng), trong đó số tiền mặt do nhân viên rút về tất cả đều giao cho Võ Văn T sử dụng vào mục đích cá nhân (không có hóa đơn chứng từ để chứng minh). Do phát hiện có nhiều dấu hiệu bất thường trong việc hứa hẹn thực hiện dự án và thực tế tiến độ công việc không đạt hiệu quả, không phù hợp số tiền đã đầu tư, cho nên ông Yap Wee C đã yêu cầu Võ Văn T cung cấp bản chính của các chứng từ tài liệu nêu trên, đồng thời yêu cầu T bàn giao các thửa đất đã mua để làm dự án trang trại nuôi Y1, đồng thời hoàn trả lại số tiền mà ông Yap Wee C đã chuyển cho T, nhưng T cố tình lẩn tránh không hợp tác, mặt khác T quyết định giải tán nhân viên và đóng cửa trụ sở Công ty Đ2.

Trong thời gian nộp hồ sơ và chờ xin Quyết định chủ trương đầu tư, để tạo lòng tin đối với ông Yap Wee C về việc dự án nuôi chim Y1 đang được xúc tiến thực hiện. Từ ngày 09/4/2018 đến ngày 24/8/2018 Võ Văn T đã sử dụng số tiền mà ông Yap W Chong chuyển đến để mua 09 thửa đất, gồm các thửa số 69, 79, 106, 107, 108, 123, 124, 138, 168 cùng tờ bản đồ số 4, địa chỉ tại xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai, có tổng diện tích là 91.707m2, với tổng số tiền là 6.840.000.000₫ (Sáu tỷ tám trăm bốn mươi triệu đồng) của các ông, bà Trần Thị Mộng Đ1, Nguyễn Thị V, Trang Văn L2 và Trần Việt H2. Tuy nhiên tổng số tiền ghi trên các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với các thửa đất nêu trên chỉ ghi là 260.000.000₫ (Hai trăm sáu mươi triệu đồng), hiện nay Chi cục T10 đã ra Thông báo với tổng số tiền thuế thu nhập cá nhân phải nộp là 20.213.400₫ (Hai mươi triệu hai trăm mười ba nghìn bốn trăm đồng). Trong khi đó thì tổng số tiền thực tế giao dịch các thửa đất nêu trên là 6.840.000.000₫ (Sáu tỷ tám trăm bốn mươi triệu đồng), do đó số tiền thuế thu nhập cá nhân phải nộp là 136.800.000đ. Như vậy số tiền chênh lệch mà các ông, bà Trần Thị Mộng Đ1, Nguyễn Thị V, Trang Văn L2 và Trần Việt H2cần phải nộp bổ sung vào Ngân sách Nhà nước là 136.800.000đ - 20.213.400₫ = 116.586.600đ (Một trăm mười sáu triệu năm trăm tám mươi sáu nghìn sáu trăm đồng). Sau khi giao dịch mua đất xong thì Võ Văn T làm hồ sơ chuyển nhượng và giao cho Đào Quốc K - Giám đốc Công ty Đ2, đứng tên trên các Giấy chứng nhận quyền sử dụng các thửa đất nêu trên, gồm: BE: 873371; BE: 873372; BE: 873363; BE: 873364; BE: 873365; CA: 975459; CD: 534148; C: 675756; CP: 255284. Đồng thời Võ Văn T tiến hành chuyển nhượng tất cả 09 thửa đất nêu trên cho người khác với tổng giá tiền là 8.370.000.000đ (Tám tỷ ba trăm bảy mươi triệu đồng) - (lãi được 1.530.000.000 đồng), tuy nhiên tổng số tiền ghi trên các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ ghi là 5.300.000.000đ (Năm tỷ ba trăm triệu đồng) - (Trong đó việc mua bán hai thửa đất số số 69 và 123 với giá 4.000.000.000₫ (Bốn tỷ đồng), do chưa làm thủ tục sang tên chủ sở hữu cho nên chưa phát sinh nghĩa vụ thuế). Riêng các thửa 79, 106, 107, 108, 124, 138, 168 có tổng giá trị ghi trong hợp đồng là 1.300.000.000đ (Một tỷ ba trăm triệu đồng), Chi cục Thuế huyện T10 đã ra Thông báo tổng số tiền thuế thu nhập cá nhân phải nộp là 27.939.960đ (Hai mươi bảy triệu chín trăm ba mươi chín nghìn chín trăm sáu mươi đồng), trong khi đó tổng số tiền thực tế giao dịch các thửa đất nêu trên là 4.370.000.000đ (Bốn tỷ ba trăm bảy mươi triệu đồng), do đó tổng số tiền thuế thu nhập cá nhân phải nộp là 87.400.000đ (T5 mươi bảy triệu bốn trăm nghìn đồng). Như vậy số tiền chênh lệch cần phải nộp bổ sung vào Ngân sách Nhà Nước là 87.400.000đ - 27.939.960 đ = 59.460.040đ (Năm mươi chín triệu bốn trăm sáu mươi nghìn không trăm bốn mươi đồng).

Hành vi của các ông, bà Trần Thị Mộng Đ1, Nguyễn Thị V, Trang Văn L2, Trần Việt H2 và Võ Văn T đã có dấu hiệu của tội Trốn thuế, quy định tại Điều 200, Bộ luật Hình sự, tuy nhiên chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự (do số tiền thuế Nhà nước thất thu dưới 100.000.000₫), Cơ quan CSĐT(CSKT) đã gửi công văn đề nghị Chi cục Thuế khu vực T10 - Định Quán xác định chính xác số tiền thuế thu nhập cá nhân đồng thời tiến hành xử phạt vi phạm hành chính và truy thu thuế đối với các cá nhân nêu trên.

Tổng số tiền thu được do bán đất như nêu trên, T sử dụng hết vào mục đích cá nhân (không có chứng từ tài liệu để chứng minh). Trong đó 07 thửa đất đã làm hồ sơ thủ tục chuyển nhượng và đã sang tên của người mua, riêng hai thửa đất số 69 và số 123 mặc dù đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đã được Văn phòng C2, thành phố B, tỉnh Đồng Nai chứng thực ngày 19/09/2018 nhưng chưa làm tờ khai và thủ tục sang tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nên hiện nay chủ sở hữu của hai thửa đất nêu trên vẫn mang tên Đào Quốc K. Cơ quan điều tra đã có văn bản gửi Văn phòng đăng ký Quyền sử dụng đất huyện T để ngăn chặn giao dịch đối với các thửa đất nêu trên.

Quá trình điều tra Võ Văn T không khai nhận hành vi sử dụng tài liệu giả của UBND tỉnh Đ và các chứng từ Ủy nhiệm chi, Giấy nộp tiền giả gửi cho ông Y Wee Chong nhằm mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án đã có đủ căn cứ xác định Võ Văn T đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại bản Kết luận giám định số 2842/C09B ngày 07/8/2019 của Giám định viên Phân viện khoa học hình sự tại Thành Phố Hồ Chí Minh kết luận: Phân tích dữ liệu trên điện thoại gửi giám định A1 (Lê Song T1), bao gồm dữ liệu hình ảnh được gửi và nhận qua ứng dụng Viber. Xác định có:

  • 01 Ảnh chụp “Giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước” không đề ngày tháng năm; Người nộp thuế: Công ty cổ phần Đ2; số tiền: 8.286.899.264đ.
  • 01 Ảnh chụp “Ủy nhiệm chỉ” đề ngày 07/8/2018; Đơn vị trả tiền: Cty CP Đầu tư & Xây dựng kỹ thuật cao Q1; số tiền 9.573.600.000đ.
  • 03 Ảnh chụp Công văn của UBND tỉnh Đ, số: 6149/UBND-ĐT, đề ngày 20/8/2018, về chấp thuận chủ trương đầu tư dự án Trang trại nuôi Y1 công nghệ cao xuất khẩu tại N.

* Tại bản Kết luận giám định bổ sung số 4206/C09B ngày 30/9/2019 của Giám định viên Phân viện khoa học hình sự tại Thành Phố Hồ Chí Minh kết luận:

  • Một (01) ảnh chụp “Giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước” không đề ngày tháng năm; Người nộp thuế: Công ty cổ phần Đ2; số tiền: 8.286.899.264 và hai (02) ảnh chụp Công văn của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ, số 6149/UBND-ĐT, đề ngày 20/8/2018, về chấp thuận chủ trương đầu tư dự án Trang trại nuôi Yến công nghệ cao xuất khẩu tại N được gửi từ tài khoản Viber có tên hiển thị là được tạo nên từ số thuê bao là 0918888386.

* Ngày 22/02/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm vụ án trên và quyết định:

Tuyên bố bị cáo Võ Văn T đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Xử phạt bị cáo Võ Văn T tù Chung T6 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 05 (năm) năm tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Võ Văn T phải chấp hành hình phạt chung là: Chung Thân, thời hạn tù tính từ ngày 24/02/2020.

Về bồi thường dân sự: Buộc bị cáo Võ Văn T phải có trách nhiệm bồi thường cho ông Y Wee Chong số tiền 22.185.592.000đ (hai mươi hai tỷ, một trăm tám mươi năm triệu, năm trăm chín mươi hai nghìn đồng).

Ông Cao Văn N1 được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục đăng ký kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất 69 và 123 tờ bản đồ số 4, tọa tại ấp A, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, trách nhiệm thi hành án, kiến nghị, quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 01/3/2022, bị cáo T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm

Ngày 25/3/2022, người bị hại có đơn kháng cáo về phần dân sự, đề nghị không công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đào Quốc K và ông Cao Văn N1 đối với thửa đất số 69 và 123.

* Tại bản án phúc thẩm hình sự số 05/2023/HSPT ngày 05/01/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại TP . (gọi tắt Bản án số 05), quyết định:

- Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo T, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình sự;

- Chấp nhận kháng cáo của bị hại: hủy bản án sơ thẩm về phần giải quyết hai thửa đất 69, 123 tờ bản đồ số 4 tọa lạc tại ấp A, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Giao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm về phần giải quyết hai thửa đất trên.

- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2023/HSST ngày 28/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, quyết định:

Căn cứ Điều 30 và các Điều 117, 500, 501, 502 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 167, 169 Luật đất đai 2013.

- Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N1 và ông K đối với thửa đất số 69 và 123 tờ bản đồ số 4, địa chỉ tại xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Ông Cao Văn N1 được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục đăng ký kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hai thửa đất trên.

- Bác yêu cầu của bị hại đề nghị Tòa án tuyên vô hiệu giao dịch chuyển nhượng trên và áp dụng biện pháp kê biên, xử lý tài sản đối với hai thửa đất 69 và 123 tờ bản đồ số 4, ấp A, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

* Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 07/8/2023, ông Trương Quốc Q kháng cáo đề nghị sửa lại bản án sơ thẩm. Đề nghị tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N1 và ông K đối với thửa đất số 69 và 123 là vô hiệu; áp dụng kê biên, xử lý tài sản trên để đảm bảo thi hành án.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị hại vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Có căn cứ xác định 02 thửa đất 69 và 123 tại địa chỉ xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai là tài sản hình thành từ số tiền mà Võ Văn T đã lừa đảo người bị hại để chiếm đoạt. Nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị hại, sửa án sơ thẩm theo hướng: Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N1 và ông K đối với thửa đất số 69 và 123 bị vô hiệu và kê biên 02 thửa đất trên để đảm bảo thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Xét nội dung kháng cáo của bị hại thấy rằng:

[1.1]. Tại bản án phúc thẩm hình sự số 05/2023/HSPT ngày 05/01/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, đã nhận định (T): “Như vậy, có đủ căn cứ pháp lý xác định 02 thửa đất 69 và 123 cùng bản đồ số 4, địa chỉ tại xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai là tài sản hình thành từ số tiền mà Võ Văn T đã lừa đảo người bị hại để chiếm đoạt, là tài sản hình thành từ hành vi phạm tội của bị cáo. Trong trường hợp đó, việc Tòa sơ thẩm công nhận cho ông Cao Văn N1 được quyền xác lập quyền sử dụng đối với hai thửa đất trên, dựa trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với ông Đào Quốc K là không có căn cứ pháp luật”. Đồng thời tuyên: “Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo T, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình sự; Chấp nhận kháng cáo của bị hại: hủy bản án sơ thẩm về phần giải quyết hai thửa đất 69, 123 tờ bản đồ số 4 tọa lạc tại ấp A, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Giao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm về phần giải quyết hai thửa đất trên...”.

Như vậy, Bản án phúc thẩm số 05 đã xác định 02 thửa đất 69, 123 là vật chứng của vụ án, “là tài sản hình thành từ hành vi phạm tội của bị cáo, Tòa sơ thẩm công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên là không có căn cứ pháp luật”. Lẽ ra, khi giải quyết lại vụ án, Tòa sơ thẩm quyết định kê biên 02 thửa đất trên để đảm bảo việc thi hành án cho nghĩa vụ của bị cáo T là đủ. Tuy nhiên, Tòa sơ thẩm xét xử lại tiếp tục tuyên: Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên là không đúng thẩm quyền và không phù hợp với nhận định của Bản án phúc thẩm số 05 đã chỉ ra.

[1.2]. Từ những phân tích và nhận định trên, xét thấy Tòa sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng về thẩm quyền; Cần hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2023/HSST ngày 28/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa sơ thẩm giải quyết lại phần xử lý vật chứng theo hướng nhận định trên.

[2]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị kê biên 02 thửa đất trên để đảm bảo thi hành án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Tuy nhiên, việc đề nghị sửa án theo hướng tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 02 thửa đất 69, 123 bị vô hiệu là không đúng thẩm quyền giải quyết trong vụ án hình sự.

[3]. Các nội dung khác của vụ án đã được giải quyết tại bản án hình sự sơ thẩm số 31/2022/HS-ST ngày 22/02/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai và bản án hình sự phúc thẩm số 05/2023/HS-PT ngày 05/01/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại TP ..

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào Điều 355; Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2023/HSST ngày 28/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa sơ thẩm giải quyết lại phần xử lý vật chứng liên quan 02 thửa đất 69 và 123 cùng tờ bản đồ số 4, địa chỉ tại xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

2. Các nội dung khác của vụ án đã được giải quyết tại bản án hình sự sơ thẩm số 31/2022/HS-ST ngày 22/02/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai và bản án hình sự phúc thẩm số 05/2023/HS-PT ngày 05/01/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại TP ..

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Cục THADS tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị hại;
  • - NCQL&NVLQ;
  • - Lưu: HS, VP, 24bTNB.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chung Văn Kết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 274/2024/HS-PT ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)

  • Số bản án: 274/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xin giảm nhẹ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger