Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 274/2024/DS-PT

Ngày: 27-9-2024

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Toàn

Các thẩm phán: Ông Ngô Thanh Sỹ

Ông Nguyễn Trung Hưng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Minh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Thế Anh- Kiểm sát viên.

Ngày 27/9/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 186/2020/TLPT-DS ngày 12 tháng 8 năm 2020 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 10/2020/DS-ST ngày 15/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 229/2024/QĐ-PT ngày 14/8/2024 và quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 631 /2024/QĐ-PT ngày 10/9/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1957.

    Địa chỉ: B, Tổ A, ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1975.

    Địa chỉ: tổ I, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

  2. Bị đơn: Ông Trần L1, sinh năm 1954.

    Địa chỉ: C, Tổ A, ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • + Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1954.
    • + Anh Trần Quốc T, sinh năm 1997.
    • Cùng địa chỉ: C, Tổ A, ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
    • + Anh Tô Trung C, sinh năm 1987.
    • Địa chỉ: B, Tổ A, ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
    • + Ngân hàng TMCP N1.
    • Địa chỉ: A, T, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội.
    • Người đại diện theo pháp luật: Ông Nghiêm Xuân T1. Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
    • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Trọng L2. Chức vụ: Trưởng phòng G – Chi nhánh N2. Văn bản ủy quyền ngày 01/3/2018.
    • + Ông Lê Văn T2, sinh năm: 1957.
    • Địa chỉ: số A, tổ B, ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
    • + Ông Hồng Quang Đ, sinh năm: 1956.
    • Địa chỉ: số B, tổ B, ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
  4. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, Bị đơn ông Trần L1.

    (Bà H, bà L, ông L1, bà N, anh Quốc T, anh C có mặt; ông L2, ông T, ông Đ vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

+ Theo án sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Bà sử dụng phần đất có diện tích 101m² thuộc thửa số 297, tờ bản đồ số 15, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai (nay thuộc thửa mới 77, tờ bản đồ số 113). Phần đất này đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn T2 và chuyển quyền sử dụng lại cho bà vào năm 2008, thể hiện tại phần điều chỉnh trang 4.

Vợ chồng ông Trần L1 và bà Nguyễn Thị N sử dụng phần đất giáp ranh với đất của bà. Nguồn gốc phần đất ông L1 sử dụng do nhận chuyển nhượng từ ông Hồng Quang Đ vào thời điểm nào bà không rõ. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông L1 xây dựng hàng rào bằng gạch trước. Sau đó (bà không nhớ rõ thời gian), bà xây nhà ở như hiện tại theo hàng rào trước đó ông L1 đã xây dựng, giữa ranh đất của bà và ông L1 có một giếng nước, ranh đất nằm giữa giếng, ông L1 tự ý xây hàng rào bao và lấy luôn giếng nước, vì trước đây ở khu vực này cứ hai hộ dân là xài cùng một giếng nước, do bà không chú ý và cũng nghĩ ông L1 xây dựng theo đúng diện tích của ông.

Sau này, khi Nhà nước đo đạc lại đất để cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà mới phát hiện ông L1 lấn chiếm 14,8m² đất mà bà được cấp giấy.

Diện tích đất của bà 101m² thuộc thửa số 297, tờ bản đồ số 15, xã P, sau khi cấp đổi diện tích còn lại 98.8m², thửa 77, tờ bản đồ số 113 xã P. Như vậy, diện tích đất của bà bị thiếu so với diện tích bà nhận chuyển nhượng ban đầu từ ông T2.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và thẩm định giá vào các ngày 29/7/2015 và ngày 31/8/2016. Bà đã nhận được bản vẽ và chứng thư thẩm định giá, bà đồng ý với Trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất số 67/2020 ngày 07/01/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ và Chứng thư thẩm định giá số 690/TĐG-CT ngày 10/4/2017. Đồng ý sử dụng giá trên để làm căn cứ giải quyết vụ án.

Nay căn cứ vào kết quả đo đạc thực tế trong quá trình giải quyết vụ án, bà yêu cầu vợ chồng ông L1, bà N trả lại phần đất lấn chiếm có diện tích 14,8m² theo Trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất số 67/2020 ngày 07/01/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ, không đồng ý thanh toán giá trị.

+ Theo án sơ thẩm, bị đơn ông Trần L1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N trình bày:

Vợ chồng ông, bà vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày trước đây trong quá trình làm việc tại Tòa, vợ chồng ông, bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà H vì vợ chồng ông, bà không lấn đất của bà H.

Vợ chồng ông, bà đang quản lý sử dụng phần đất thuộc thửa 262, 263, 298 tờ bản đồ số 15, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 478392 ngày 02/12/1999. Nguồn gốc đất của ông bà là do nhận chuyển nhượng của ông Hồng Quang Đ. Năm 1996, khi ông bà nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Đ, phía trước mặt tiền đất có ranh là bức tường nhà do ông Đ xây dựng quán trước đó có cột xây 20cm, móng gạch bên dưới, sau này vợ chồng ông chỉ xây dựng thêm trên phần móng nêu trên mà không lấn sang phần đất của bà H. Đối với giếng nước phía sau nhà nằm hoàn toàn trên đất của ông bà không phải ranh giới đất hai bên như bà H trình bày.

Năm 2015, ông bà đã có đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất để cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hiện đã được cấp đổi giấy chứng nhận mới nhưng ông bà chưa nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới, lý do là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ ông bà đang thế chấp ngân hàng chưa lấy ra nên không được nhận Giấy mới, chưa biết được những thông tin trên giấy mới.

Trên đất hiện có căn nhà 01 trệt 01 lầu, vợ chồng ông bà sử dụng tầng trên để sinh hoạt và thờ cúng, tầng dưới vợ chồng ông bà cho thuê nhưng hiện nay chỉ có vợ chồng ông bà sinh sống, không còn cho thuê. Đối với các con của ông bà thì gồm có anh Trần Quốc T3, Trần Quốc T4 đã có gia đình và sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh không còn sinh sống trên căn nhà nói trên, chỉ còn anh Trần Quốc T đi học ở Thành phố Hồ Chí Minh, thỉnh thoảng về chơi và thăm vợ chồng ông bà.

Ngoài ra, trong quá trình sử dụng đất, năm 2011, vợ chồng ông bà đã thế chấp toàn bộ quyền sử dụng đất nói trên cho Ngân hàng TMCP N1 – Chi nhánh N2 – Phòng G tại xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai để vay tiền kinh doanh, hiện chưa xóa thế chấp.

Ông bà không có ý kiến đối với bản vẽ bản vẽ 67/2020 ngày 07/01/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ đề nghị Tòa án giải quyết theo các cột mốc thực tế. Tại phiên tòa ngày 21/11/2019, ông bà có yêu cầu xem xét thẩm định tại chỗ lại phần đất tranh chấp, sau khi nhận thông báo nộp chi phí tố tụng ông bà xét thấy không cần thiết nên không nộp tạm ứng chi phí xem xét thẩm định và cũng không tiếp tục yêu cầu.

Chứng thư thẩm định giá số 690/TĐG-CT ngày 10/4/2017, ông bà không thắc mắc gì về giá, đồng ý sử dụng giá trên làm cơ sở xét xử.

Phần đất phía sau của ông bà giáp ranh với đất bà H nếu bà H có lấn chiếm thì ông bà sau này sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.

Nay bà H khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông bà trả lại phần đất lấn chiếm có diện tích 14,8 m², theo bản vẽ số 67/2020 ngày 07/01/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ, ông bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H do vợ chồng ông, bà không lấn chiếm đất của bà H.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Quốc T trình bày: (tại hồ sơ)

Anh T5 là con ruột của ông L1, bà N. Vấn đề tranh chấp đất đai giữa nhà bà H với ba, mẹ anh đã nhiều lần được xem xét, khảo sát đo đạc từ các cấp chính quyền địa phương, đều đưa ra hòa giải giữa hai bên nhưng đều không thành.

Nay anh T5 yêu cầu Tòa án giải quyết rõ ràng để sự việc sáng tỏ, để giải quyết hiểu lầm giữa hai bên gia đình.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên ông Hồng Quang Đ trình bày: (tại hồ sơ)

Nguồn gốc đất của ông L1 và bà N do ông là người chuyển nhượng lại cho ông L1 và bà N, khi bán đất ông có xây 01 căn nhà cấp 4 trên đất, xây sát bờ ranh của ông T5 chiều dài 4m (giáp thửa 77 hiện tại), chiều ngang 7m mặt tiền, từ phía sau đuôi nhà của ông, ông có kéo một sợi dây làm ranh, cột vào cây sắt đã được đóng cố định giữa ranh, trên ranh có một giếng nước nằm trong đất của ông, giếng này nhiều hộ dân dùng chung, ba ông là người rào giếng này. Khi ông chuyển nhượng đất này cho ông L1 không phát sinh tranh chấp gì và ông L1 vẫn sử dụng như hiện tại.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T2 trình bày: (tại hồ sơ)

Tại thời điểm ông Đ xây nhà không có lấn đất của ông, phía sau phần đất của ông có nghiên qua ông Đ một tí, giữa ranh đất hai nhà có một cái giếng, giếng này nằm giữa ranh, sau đó ông chuyển nhượng lại đất cho bà H năm 1997 diện tích 101m² thời điểm này chỉ viết giấy tay, nhưng ông đã đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến khi thông báo có giấy bà H là người đóng tiền để nhận giấy và thực hiện thủ tục chuyển nhượng chỉnh trang tư năm 2008, hiện trạng lúc chuyển nhượng là đất trống, không ai tranh chấp gì. Sau khi chuyển nhượng cho bà H năm 1997, bà H quản lý, sử dụng, từ đó đến nay ông không biết vấn đề gì thêm.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng thương mại cổ phần N1 do ông Vũ Trọng L2 đại diện theo ủy quyền trình bày: (tại hồ sơ)

Ngày 01/4/2016, ông Trần L1 thế chấp quyền sử dụng đất số P 478392 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 02/12/1999 gồm các thửa đất số 262, 263 và 298, tờ bản đồ số 15, xã P với diện tích 270m² để vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần N1 - Chi nhánh N2 - Phòng G, việc thế chấp vay vốn được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.

Nay bà Nguyễn Thị H khởi kiện ông Trần L1 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất liên quan đến phần đất ông Trần L1 đang thế chấp để vay vốn Ngân hàng, phía Ngân hàng đề nghị Tòa án xét xử theo đúng quy định của pháp luật, tuyên trả phần diện tích lấn chiếm (nếu có). Tuy nhiên, do tài sản đang được đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của khách hàng nếu trường hợp ông Trần L1 là người phải trả phần diện tích đất lấn chiếm thì đề nghị Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng trong việc thu hồi nợ vay từ ông Trần L1. Trong vụ án này, phía Ngân hàng không yêu cầu gì.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 10/2020/DS-ST ngày 11 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai tuyên xử:

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; Điều 157; Điều 203; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 7 Điều 166; khoản 1 Điều 203 Luật đất đai sửa đổi, bổ sung năm 2013;

Căn cứ vào Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ pháp lệnh số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ Điều 2 Luật người cao tuổi 2009;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với bị đơn ông Trần L1 và bà Nguyễn Thị N.
  2. Buộc ông Trần L1 và bà Nguyễn Thị N phải thanh toán lại cho bà Nguyễn Thị H giá trị đất diện tích 09m² số tiền là 28.800.000đ (hai mươi tám triệu tám trăm nghìn đồng) theo chứng thư thẩm định giá trị tài sản số 690/TĐG-CT ngày 10/04/2017 của công ty cổ phần T6.
  3. Không chấp nhận đối với yêu cầu của bà H về việc buộc ông L1 và bà N trả lại đất, không nhận bằng giá trị.
  4. Giao cho ông Trần L1 và bà Nguyễn Thị N được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 09m² tại thửa số 77, tờ bản đồ số 113 xã P, được giới hạn tại các điểm mốc 2', 6, A, 2' theo trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 67/2020 ngày 07/01/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở tài nguyên môi trường tỉnh Đ.
  5. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với diện tích 05m² thuộc một phần thửa 76, tờ bản đồ số 113 xã P huyện L, tỉnh Đồng Nai và diện tích 0,8m² thuộc một phần thửa 65 tờ bản đồ số 113, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
  6. Bà H, ông L1 và bà N phải liên hệ với cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.

  • + Ngày 21/5/2020 nguyên đơn bà Nguyễn Thị H kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc ông L1, bà N trả lại 14,8 m² đất thuộc thửa số 77, tờ bản đồ số 13 xã P; trường hợp trả bằng tiền thì phải trả theo giá đất năm 2020 và xem xét lại phần diện tích đất 2,5m² do Tòa án huyện L tuyên án còn thiếu.
  • + Ngày 25/5/2020 bị đơn ông Trần L1 kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H.

Tại phiên tòa, người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Các bên đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án. Không đương sự nào cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:

  • - Người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, Bị đơn làm đơn kháng cáo trong hạn luật định và đúng quy định pháp luật nên được xem xét.
  • - Về đường lối giải quyết:

Cấp sơ thẩm đã giải quyết nội dung tranh chấp phù hợp với quy định pháp luật, tuy nhiên tại cấp phúc thẩm các đương sự có yêu cầu đo vẽ và thẩm định giá lại diện tích đất tranh chấp.

Tại Trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 18071/2020 ngày 16/12/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ thể hiện phần đất ông L1 và bà N lấn qua phần đất bà H đang sử dụng là 4,7m².

Ngày 15/01/2021 Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai có văn bản số 57/CV-TA gửi Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ đề nghị xác định giữa hai bản vẽ số 67/2020 ngày 07/01/2020 và số 18071/2020 ngày 16/12/2020, bản vẽ nào chính xác?

Ngày 04/02/2021 Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ có công văn số 993/VPĐK-ĐĐBĐ trả lời bản vẽ số 18071/2020 ngày 16/12/2020 đảm bảo độ chính xác, đầy đủ theo hợp đồng đo đạc dịch vụ, việc bản vẽ số 67/2020 ngày 07/01/2020 có sai lệch diện tích với bản vẽ số 18071/2020 ngày 16/12/2020 do việc đo đạc theo sự chỉ dẫn ranh giới thửa đất của nguyên đơn và bị đơn không có sự trùng khớp qua các lần đo đạc dẫn đến số liệu có thay đổi, ảnh hưởng đến phần diện tích thể hiện trên bản vẽ.

Không đồng ý với Trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 18071/2020 ngày 16/12/2020, bà H có yêu cầu đo vẽ lại.

Tại Trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 3395/2023 ngày 27/11/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ tiếp tục thể hiện phần đất ông L1 và bà N lấn qua phần đất bà H đang sử dụng là 4,7m² được giới hạn bởi các mốc 1, 6, i, 1.

Tại biên bản làm việc ngày 16/01/2024 bà H trình bày không đồng ý với Trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 3395/2023 ngày 27/11/2023 của Văn phòng Đ và đề nghị Tòa án sử dụng Bản vẽ số 67/2020 ngày 07/01/2020 để làm căn cứ giải quyết vụ án.

Tại Chứng thư thẩm định giá số 009/2024/071612 ngày 16/7/2024 của Công ty cổ phần T6 xác định giá trị 4,7m² đất lấn chiếm là 98.700.000 đồng (tương đương 21.000.000 đồng/m²).

Tại biên bản làm việc ngày 24/7/2024 bà H trình bày theo Chứng thư thẩm định, giá trị đất là 21.000.000 đồng/m² bà không đồng ý vì quá rẻ, trường hợp ông L1 trả đất bằng tiền thì bà yêu cầu tính theo giá thị trường là 50.000.000 đồng/m² nhưng bà không yêu cầu thẩm định giá lại.

Xét thấy, Trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 3395/2023 ngày 27/11/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ là bản vẽ cuối cùng, sử dụng máy móc, thiết bị hiện đại để đo vẽ, đảm bảo độ chính xác, đầy đủ theo hợp đồng đo đạc dịch vụ, các mốc ranh đất được đo vẽ theo sự chỉ dẫn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H và bị đơn ông Trần L1 có sự chứng kiến của Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai và công chức địa chính xã P, do đó việc bà H không đồng ý với Bản vẽ này là không có cơ sở. Đối với Chứng thư thẩm định giá số 009/2024/071612 ngày 16/7/2024 của Công ty cổ phần T6 xác định đất tranh chấp có giá 21.000.000 đồng/m², bà H không đồng ý vì cho rằng giá thị trường là 50.000.000 đồng/m² nhưng bà không có yêu cầu thẩm định giá lại nên không có cơ sở để xem xét.

Như vậy, tại giai đoạn phúc thẩm, theo Bản vẽ mới và Chứng thư thẩm định giá mới có sự thay đổi so với giai đoạn sơ thẩm vì vậy, cần sửa Bản án sơ thẩm vì lý do khách quan, cụ thể là giao cho ông Trần L1 và bà Nguyễn Thị N được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 4,7m² tại thửa số 77, tờ bản đồ số 113 xã P, được giới hạn bởi các mốc 1, 6, i, 1 theo Trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 3395/2023 ngày 27/11/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ và buộc ông Trần L1, bà Nguyễn Thị N phải thanh toán lại cho bà Nguyễn Thị H giá trị diện tích đất 4,7m² với số tiền là 98.700.000 đồng theo Chứng thư thẩm định giá số 009/2024/071612 ngày 16/7/2024 của Công ty cổ phần T6 là đúng quy định.

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H và bị đơn ông Trần L1; Sửa bản án sơ thẩm số 10/2020/DS-ST ngày 11/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H và bị đơn ông Trần L1 làm trong thời hạn và đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
  2. Về thủ tục tố tụng: ông L2, ông Đ đã được tống đạt hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa còn ông T2 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 2, 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự mở phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt các đương sự.
  3. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết, đương sự trong vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng và đầy đủ.
  4. Về nội dung: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả diện tích đất 14,8m² lấn chiếm và yêu cầu trả đất không đồng ý thanh toán bằng giá trị. Về phía bị đơn không đồng ý vì bị đơn không lấn chiếm đất của nguyên đơn.

Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H và bị đơn ông Trần L1 Hội đồng xét xử xét thấy:

Nguyên đơn bà H đang quản lý sử dụng diện tích 98,8m², thửa số 77, tờ bản đồ 113, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 753269 ngày 22/12/2015 tại xã P, huyện L, nguồn gốc đất chuyển nhượng của ông Lê Văn T2 năm 1997 còn bị đơn đang sử dụng các thửa đất số 262, 263, 298, tờ bản đồ số 15, xã P đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 478392 ngày 02/12/1999, nguồn gốc đất bị đơn nhận chuyển nhượng của ông Hồng Quang Đ vào năm 1996, theo bản vẽ hiện trạng khu đất thể hiện thửa đất đang tranh chấp với nguyên đơn là thửa số 298 tờ bản đồ số 15 bản đồ cũ. Ngày 18/7/2014, bị đơn có đơn đăng ký biến động đất đai và tài sản gắn liền với đất, theo hệ thống bản đồ địa chính năm 2014 thửa đất trên nay là thửa 76, tờ bản đồ 113, diện tích 174,1m² Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD 328350 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 25/12/2015. Do bị đơn đang thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (cũ) số P 478392 ngày 02/12/1999 để vay vốn ngân hàng nên bị đơn chưa nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới.

Qua xem xét thẩm định tại chỗ, theo sự chỉ dẫn ranh giới giữa hai thửa đất tranh chấp tại trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 67/2020 ngày 07/01/2020 Của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ thể hiện: Diện tích đất của bà H là 98,8m², thửa số 77, tờ bản đồ số 113 xã P; Diện tích đất của ông L1, bà N là 174,1m², thửa số 76, tờ bản đồ 113 (thửa cũ 298, tờ số 15) và có 5m² thuộc một phần thửa 77, tờ bản đồ số 113, xã P; 0,8m² thuộc một phần trong thửa mới 65, tờ bản đồ 113, xã P thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông L1, bà N; phần đất ông L1, bà N lấn qua phần đất của bà H đang sử dụng là 9m² được giới hạn bởi các mốc 2', 6, A, 2'. Trong phần diện tích đất của bà H bị lấn hiện trạng là toàn bộ bức tường bên hông nhà ông L1, bà N. Từ đó có cơ sở xác định trong quá trình xây dựng nhà ông L1, bà N đã xây lấn qua đất của bà H 09m². Do đó bà H khởi kiện yêu cầu ông L1, bà N trả lại phần đất lấn chiếm là có căn cứ một phần, tuy nhiên bà H yêu cầu buộc ông L1, bà N phải tháo gỡ phần móng nhà, tường gạch diện tích 9m² trả lại đất là không phù hợp. Bởi lẽ, thực trạng diện tích đất ông L1, bà N xây dựng móng và bức tường có kết cấu liền khối kiên cố, nếu buộc ông L1, bà N gỡ bỏ theo yêu cầu của bà H để trả lại đất sẽ làm ảnh hưởng đến toàn bộ kết cấu và cấu trúc căn nhà, thiệt hại về kinh tế, đồng thời diện tích đất mà bị đơn lấn chiếm quá nhỏ sẽ khó khăn cho việc thi hành án sau này.

Vì vậy, cấp sơ thẩm giải quyết giao diện tích đất 09m² thuộc một phần thửa 77, tờ bản đồ 113 xã P của nguyên đơn cho bị đơn tiếp tục quản lý, sử dụng và buộc bị đơn thanh toán lại giá trị đất cho nguyên đơn theo chứng thư thẩm định giá là phù hợp.

Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm nguyên đơn cho rằng cấp sơ thẩm áp dụng giá đất theo chứng thư thẩm định giá năm 2017 là quá thấp so với giá đất hiện nay nên có đơn yêu cầu thẩm định giá lại tài sản tranh chấp còn bị đơn cho rằng quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm khi tiến hành đo vẽ hiện trạng đất không có mặt bị đơn nên bản vẽ không chính xác, vì vậy có đơn yêu cầu đo vẽ lại diện tích đất tranh chấp.

Ngày 18/9/2020 Tòa án kết hợp với Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ và Công ty cổ phần T6 tiến hành đo vẽ lại đất tranh chấp và thẩm định giá tài sản.

Tại trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 18071/2020 ngày 16/12/2020 và số 3359/2023 ngày 27/11/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ đều thể hiện nhà của bị đơn đã xây lấn qua đất của nguyên đơn 4,7m², thuộc một phần thửa 77, tờ bản đồ 113 xã P, được giới hạn bởi các mốc (1, 6, i, 1).

Tại chứng thư thẩm định giá số 009/2024/071612 ngày 16/7/2024 của Công ty cổ phần T6 xác định phần đất tranh chấp 4,7m² có giá trị là 98.700.000 đồng (tương đương 21.000.000 đồng/m²).

Nguyên đơn không đồng ý theo kết quả đo vẽ số 18071/2020 ngày 16/12/2020 và số 3359/2023 ngày 27/11/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ do thể hiện nhà của bị đơn đã xây lấn qua đất của nguyên đơn 4,7m² và đề nghị áp dụng bản vẽ số 67/2020 ngày 07/01/2020 được thực hiện tại cấp sơ thẩm thể hiện nhà của bị đơn đã xây lấn qua đất của nguyên đơn 09m² để giải quyết vụ án. Xét thấy, đề nghị của nguyên đơn là không có cơ sở, bởi lẽ, tại văn bản số 993/VPĐK-ĐĐBĐ ngày 04/02/2021 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ xác định các yếu tố, nội dung thể hiện trên bản vẽ số 18071/2020 ngày 16/12/2020 đảm bảo độ chính xác, đầy đủ và tại bản vẽ số 3359/2023 ngày 27/11/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ cũng thể hiện khớp với bản vẽ số 18071/2020 ngày 16/12/2020, do đó Hội đồng xét xử căn cứ bản vẽ số 3359/2023 ngày 27/11/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ để làm cơ sở giải quyết vụ án.

Đối với chứng thư thẩm định giá nguyên đơn không đồng ý với giá đất thẩm định là 21.000.000 đồng/m² nhưng không yêu cầu thẩm định giá lại và cho rằng giá đất thị trường hiện nay là 50.000.000 đồng/m² nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh nên không có sở chấp nhận, do đó căn cứ chứng thư thẩm định giá số 009/2024/071612 ngày 16/7/2024 của Công ty cổ phần T6 để làm cơ sở giải quyết vụ án.

Từ những chứng cứ mới thu thập tại cấp phúc thẩm, có đủ cơ sở xác định trong quá trình xây dựng nhà bị đơn đã xây lấn qua đất của nguyên đơn 4,7m² nhưng nguyên đơn yêu cầu tháo gỡ phần móng nhà, tường gạch để trả lại đất là không phù hợp như đã phân tích ở trên, do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giao diện tích đất 4,7m² thuộc một phần thửa 77, tờ bản đồ 113 xã P của nguyên đơn cho bị đơn tiếp tục quản lý, sử dụng và buộc bị đơn thanh toán lại giá trị đất cho nguyên đơn theo chứng thư thẩm định giá số 009/2024/071612 ngày 16/7/2024 là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật.

  1. Về chi phí tố tụng:

Do yêu cầu khởi kiện của bà H được chấp nhận một phần nên bà H và ông L1, bà N cùng phải chịu một phần chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và thẩm định giá, tổng số tiền 54.890.726 đồng (cấp sơ thẩm 23.058.800đ + cấp phúc thẩm 31.831.926đ). Chia phần cụ thể như sau: Bà H chịu 37.459.212 đồng, ông L1 và bà N chịu 17.431.514 đồng. Tiền chi phí tố tụng bà H đã tạm ứng số tiền 50.883.104 đồng; ông L1 đã tạm ứng số tiền 4.007.622 đồng.

Như vậy, sau khi khấu trừ số tiền ông L1 nộp tạm ứng 4.007.622 đồng, ông L1 và bà N còn phải hoàn trả lại cho bà H số tiền 13.423.892 đồng (mười ba triệu bốn trăm hai mươi ba ngàn tám trăm chin mươi hai đồng) chi phí tố tụng.

  1. Về án phí:

Bà H và ông L1, bà N có đơn xin miễn án phí và thuộc đối tượng người cao tuổi nên căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm cho Bà H và ông L1, bà N.

Hoàn trả cho bà H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.250.000đồng (một triệu hai trăm năm chục ngàn đồng), theo biên lai số 006411 ngày 13/01/2015 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành.

+ Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị H1 và bị đơn ông Trần L1; Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2020/DS-ST ngày 11 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

- Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; Điều 157; Điều 203; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271, 273; khoản 2, 3 Điều 296, 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào khoản 7 Điều 166; khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013;

- Căn cứ vào Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ pháp lệnh số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án; Điều 2 Luật người cao tuổi 2009; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với ông Trần L1 và bà Nguyễn Thị N.

    Công nhận cho ông Trần L1 và bà Nguyễn Thị N được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 4,7m² thuộc một phần thửa số 77, tờ bản đồ số 113 xã P, được giới hạn tại các mốc (1, 6, i, 1) theo trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 3359/2023 ngày 27/11/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ.

    Buộc ông Trần L1 và bà Nguyễn Thị N phải thanh toán lại cho bà Nguyễn Thị H giá trị diện tích đất 4,7m² với số tiền là 98.700.000đ (chín mươi tám triệu bảy trăm nghìn đồng) theo chứng thư thẩm định giá trị tài sản số 009/2024/071612 ngày 16/7/2024 của Công ty cổ phần T6.

    Bà H và ông L1, bà N phải liên hệ với cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

  2. Chi phí tố tụng:
    • - Ông L1, bà N phải chịu 17.431.514 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng ông L1 đã nộp 4.007.622 đồng nên ông L1, bà N phải hoàn trả cho bà H số tiền 13.423.892 đồng (mười ba triệu bốn trăm hai mươi ba ngàn tám trăm chin mươi hai đồng) chi phí tố tụng.
    • - Bà H phải chịu 37.459.212 đồng (ba mươi bảy triệu bốn trăm năm mươi chín ngàn hai trăm mười hai đồng) chi phí tố tụng. (Bà H đã nộp đủ)
  3. Về án phí: Bà H, ông L1 và bà N được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.

    Hoàn trả cho bà H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.250.000đồng (một triệu hai trăm năm chục ngàn đồng) theo biên lai số 006411 ngày 13/01/2015 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành.

Kể từ ngày án có hiệu lực, có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Thành viên Hội đồng xét xử Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Ngô Thanh Sỹ

(Đã ký)

Võ Văn Toàn

(Đã ký)

Nguyễn Trung Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 274/2024/DS-PT ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 274/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị H tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Trần L.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger