Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 274/2023/DS-ST

Ngày: 14-8-2023

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Phương Thảo

Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trương Thị Đạt;
  2. Bà Đoàn Thị Thỉnh.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Loan - Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Tú – Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 280/2022/TLST-DS ngày 17 tháng 10 năm 2022, về việc: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2023/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 160/2023/QĐST-DS ngày 14 tháng 7 năm 2023, giữa:

1.Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S; Địa chỉ trụ sở: Lầu H, số B đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức danh: Tổng Giám đốc.

Người đại diện hợp pháp: Ông Lã Ngọc M, sinh năm 1970; Là người đại diện ủy quyền theo giấy ủy quyền số 944/2023/UQ-TGĐ ngày 13/04/2023 (Có yêu cầu xét xử vắng mặt)

2.Bị đơn: Ông Võ Văn T, sinh năm 1985; Hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; Địa chỉ: Số A Tổ C, Khu phố D, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 5 năm 2021 và tại các bản tự khai, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S do ông Lã Ngọc M là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 02/12/2010, ông Võ Văn T có ký với Ngân hàng TMCP S (Sau đây gọi là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện Tèo hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng- các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông T, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng số thẻ 472074-7632 với hạn mức sử dụng là 10.000.000 (Mười triệu) đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 29.843.100 (Hai mươi chín triệu tám trăm bốn mươi ba ngàn một trăm) đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 36.096.415 (Ba mươi sáu triệu không trăm chín mươi sáu ngàn bốn trăm mười lăm) đồng. Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:

  • + Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước
  • + Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước
  • + Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước
  • + Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ
  • + Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ
  • + Giao dich mua hàng hóa trong kỳ

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông T vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện T hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 09/02/2013 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện ban hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 1.582.926 (Một triệu năm trăm tám mươi hai ngàn chín trăm hai mươi sáu) đồng làm nợ gốc, áp dụng tại thời điểm hiện tại.

Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông T, yêu cầu ông T có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để ông T trả nợ, tuy nhiên ông T vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký

Nay, Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu ông Võ Văn T phải thanh toán tổng số tiền tính đến ngày 14/8/2023 là 17.604.620 (Mười bảy triệu sáu trăm lẻ bốn ngàn sáu trăm hai mươi) đồng, trong đó nợ gốc là 1.582.926 (Một triệu năm trăm tám mươi hai ngàn chín trăm hai mươi sáu) đồng, L quá hạn là 16.021.694 (Mười sáu triệu không trăm hai mươi mốt ngàn sáu trăm chín mươi bốn) đồng. Tất cả trả làm một lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật

Ngoài ra, ông Võ Văn T có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh kể từ ngày 15/8/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Đại diện nguyên đơn xác nhận chỉ khởi kiện yêu cầu cá nhân bị đơn ông Võ Văn T trả nợ, khoản nợ không liên quan đến bất kỳ ai khác.

Ông Lã Ngọc M là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần S vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và có đơn đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt.

* Bị đơn ông Võ Văn T đã được Tòa án tiến hành tống đạt, niêm yết triệu tập hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và Giấy triệu tập để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn không đến làm việc và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình. Vì vậy, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn. Tòa án cũng tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2023/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 160/2023/QĐST-DS ngày 14 tháng 7 năm 2023 nhưng bị đơn vẫn vắng mặt tại phiên tòa hôm nay.

* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, TP .:

Về Tố tụng:

1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý được quy định tại các Điều 26 đến Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự; Việc xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự; Việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các điều từ Điều 93 đến Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự; Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện Kiểm sát và cho các đương sự đúng quy định tại Điều 195, Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thời hạn chuẩn bị xét xử không đúng theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự

2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa

Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng các quy định chung về phiên tòa sơ thẩm, thủ tục bắt đầu phiên tòa, đảm bảo việc tranh tụng tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

3. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng

Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Bị đơn vi phạm quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Người đại diện của nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 85 của Bộ luật Tố tụng dân sự

Về nội dung:

Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147, Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Căn cứ các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.

Xét toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí dân sự: Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S có đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Võ Văn T thanh toán số tiền còn thiếu là 17.604.620 (Mười bảy triệu sáu trăm lẻ bốn ngàn sáu trăm hai mươi) đồng. Bị đơn ông Võ Văn T, sinh năm 1985 có địa chỉ cư trú tại số A Tổ C, Khu phố D, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng là loại tranh chấp được quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh theo Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Bị đơn đã được tống đạt, niêm yết hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn xác nhận việc cho bị đơn vay để tiêu dùng cá nhân nên chỉ yêu cầu cá nhân bị đơn thanh toán số tiền còn nợ như trên, không yêu cầu trách nhiệm liên đới vợ chồng nên đề nghị Tòa án không triệu tập vợ của bị đơn vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Xét bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn nhưng vẫn không có ý kiến phản đối. Do đó, Tòa án không triệu tập vợ của bị đơn tham gia với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là phù hợp với quy định tại Khoản 4 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại phiên tòa nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Võ Văn T phải thanh toán tổng số tiền còn thiếu tính đến ngày 14/8/2023 là 17.604.620 (Mười bảy triệu sáu trăm lẻ bốn ngàn sáu trăm hai mươi) đồng, trong đó nợ gốc là 1.582.926 (Một triệu năm trăm tám mươi hai ngàn chín trăm hai mươi sáu) đồng, lãi quá hạn là 16.021.694 (Mười sáu triệu không trăm hai mươi mốt ngàn sáu trăm chín mươi bốn) đồng. Yêu cầu bị đơn thanh toán một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

[4] Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

Theo kết quả trả lời Phiếu yêu cầu xác minh số 219/2021/PYCXM ngày 07/6/2021 của Công an phường B, Quận G thì: “Tại địa chỉ số A Tổ C, khu phố D, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh không có đương sự tên Võ Văn T, sinh năm 1985 cư trú”.

Ngoài ra, theo Sổ tạm trú số 01808 ngày 10/11/2009 do Trưởng Công an phường B ký và đóng dấu thể hiện ông Võ Văn T, sinh năm 1985 (Số Chứng minh nhân dân C, ngày cấp 16/7/2022, nơi cấp Công an tỉnh A) có tạm trú tại địa chỉ số A Tổ C, khu phố D, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1999, nơi thường trú trước khi chuyển đến là ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện các thủ tục tống đạt hợp lệ cho bị đơn các văn bản tố tụng của Tòa án gồm: Thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Giấy triệu tập tham gia phiên tòa, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2023/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 160/2023/QĐST-DS ngày 14 tháng 7 năm 2023 nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do nên căn cứ vào Khoản 4 Điều 91, Điều 94, Điều 95 và Điều 108 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì bị đơn đã tự tước bỏ quyền được chứng minh, trình bày ý kiến của mình và phải chịu hậu quả của việc vắng mặt, do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận lời khai và tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cũng như các chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ để làm cơ sở giải quyết vụ án.

Ngân hàng thương mại cổ phần S hoạt động các lĩnh vực tại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần (Mã số doanh nghiệp: 0301103908) của Sở Kế hoạch và đầu tư Thành phố H cấp. Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 02/10/2010 giữa Ngân hàng với ông T, thì Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 10.000.000 (Mười triệu) đồng cho ông T. Xét, chủ thể ký kết, nội dung và hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 117, Điều 118, Điều 119 và điểm b Khoản 1 Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng nên buộc các bên phải thực hiện theo thỏa thuận Hợp đồng.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bị đơn đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 29.843.100 (Hai mươi chín triệu tám trăm bốn mươi ba ngàn một trăm) đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bị đơn đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 36.096.415 (Ba mươi sáu triệu không trăm chín mươi sáu ngàn bốn trăm mười lăm) đồng.

Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bị đơn vẫn không thanh toán số tiền còn nợ. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán (điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngày 09/02/2013 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bị đơn và chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 1.582.926 đồng làm nợ gốc, áp dụng tại thời điểm hiện tại.

Xét, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền trên là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Căn cứ Điều 357 của Bộ luật Dân sự 2015:

“1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này.”

Căn cứ Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015:

“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ”.

Căn cứ Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của ngân hàng N thì lãi suất cơ bản tính từ ngày 01/12/2010 là 9%/năm. Như vậy, lãi suất cho vay trong hạn và lãi suất cho vay quá hạn tối đa là 13,5%/năm, tương đương 1,125%/tháng.

Căn cứ Khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Thỏa thuận lãi suất là cao so với quy định của pháp luật dân sự. Tuy nhiên Ngân hàng thương mại cổ phần S có chức năng hoạt động tín dụng nên phần lãi suất do các bên thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Do vậy Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi phát sinh theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 02/12/2010 đến ngày Tòa án đưa vụ án ra xét xử là phù hợp với quy định của pháp luật và có cơ sở nên chấp nhận.

Về thời gian trả nợ: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền gốc, tiền lãi tính đến hết ngày 14/8/2023 là 17.604.620 (Mười bảy triệu sáu trăm lẻ bốn ngàn sáu trăm hai mươi) đồng, tất cả trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xét yêu cầu của nguyên đơn không trái quy định pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn tiếp tục trả tiền lãi phát sinh trên nợ gốc chưa thanh toán theo lãi suất do hai bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 02/12/2020 kể từ ngày 15/8/2023 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Xét thấy yêu cầu này của nguyên đơn phù hợp với thỏa thuận hợp đồng nên chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bị đơn có nghĩa vụ phải trả nợ cho nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[6] Quyền kháng cáo: Ngân hàng thương mại cổ phần S, ông Võ Văn T có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[7] Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 266, Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ vào Điều 463, Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ vào Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng;
  • - Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
  • - Căn cứ Luật Thi hành án Dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Xử:

1. Về hình thức: Xử vắng mặt nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S và bị đơn ông Võ Văn T.

2. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

2.1. Buộc bị đơn ông Võ Văn T có nghĩa vụ phải thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S tổng số tiền tính đến ngày 14/8/2023 là 17.604.620 (Mười bảy triệu sáu trăm lẻ bốn ngàn sáu trăm hai mươi) đồng, tất cả trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 15/8/2023, bị đơn ông Võ Văn T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 02/12/2020 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

2.2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bị đơn ông Võ Văn T phải chịu án phí là 880.231 (Tám trăm tám mươi ngàn hai trăm ba mươi mốt) đồng.

- Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 404.544 (Bốn trăm lẻ bốn ngàn năm trăm bốn mươi bốn) đồng theo biên lai thu số AA/2019/0042655 ngày 28/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyền yêu cầu thi hành án, thời hiệu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

4.Quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 7;
  • - Chi cục THADS Quận 7;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu, hồ sơ (Tk Loan).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 274/2023/DS-ST ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 274/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGÂN HÀNG TMCP S- VÕ VĂN T - Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger