|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HOÁ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 273/2024/HS-ST |
Ngày: 31/7/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Cát Tưởng
2. Bà Mai Thị Tiếp
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa:
Bà Trần Minh Phương - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Trà My - Kiểm sát viên.
Ngày 31/ 7/ 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 261/ 2024/ HSST ngày 16/ 5/ 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 298/QĐXXST- HS ngày 01/7/2024 đối với bị cáo:
Bùi Hữu C;Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 20/8/1979; Nơi sinh: xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: không có nơi cư trú rõ ràng; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 06/12; Con ông: Bùi Hữu T – Sinh năm 1959 (Đã chết); Con bà: Lê Thị S – Sinh năm 1961 (Đã chết);Vợ: Hồ Thị M – sinh năm 1983 và có 02 con (Con thứ nhất sinh năm 2001, con thứ 2 sinh năm 2004).
Tiền án:
- + Ngày 26/02/2004 TAND huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- + Ngày 16/4/2007 TAND quận Tân Bình, Tp . xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- + Ngày 20/8/2010 TAND huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xử phạt 36 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Tiền sự: Ngày 12/10/2021 TAND huyện Thanh Trì, Tp . áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định số 46/2021/QĐ-TA ( Chấp hành xong ngày 21/7/2023).
Nhân thân:
- + Ngày 01/3/2005 TAND Thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
- + Ngày 30/7/2010 TAND huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- + Ngày 13/8/2010 TAND huyện Kim Bôi, tỉnh Hoà Bình xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- + Ngày 27/03/2020 Công an huyện N xử phạt VPHC về hành vi Đánh bạc.
- + Ngày 23 tháng 5 năm 2024, Toà án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 38 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” ( Hành vi phạm tội ngày 31/12/2023).
Hiện bị cáo đang chấp hành án tại trại tạm giam Công an tỉnh T từ ngày 12/01/2024 ( Theo quyết định Thi hành án phạt tù số 50/2024/QĐ-CA ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa).
Bị cáo có mặt tại phiên tòa;
Bị hại : Anh Ngô Tiến T1, Sinh năm 1978 – Vắng mặt
Địa chỉ: Thị Trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa;
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Vũ Đình V, sinh năm 1994 – Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn 5, xã Nga Liên, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá
- Anh Hoàng Việt A, sinh năm 1989 – Vắng mặt
Địa chỉ: S K, phường Đ, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có chủ đích từ trước nên khoảng 20 giờ ngày 05/10/2023, Bùi Hữu C gọi điện thoại rủ anh Ngô Tiến T1, sinh năm 1978, trú tại thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa đi uống rượu. Anh T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Future màu xanh đen BKS 36B8 040.88 đến đón C rồi cả hai đến quán ăn ở A H, ngồi uống rượu cùng với bạn của T1 là Quách Thị H, sinh năm 1974, trú tại thông Đồng Tiến, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Trong khi đang uống rượu, C nói với T1 “Cho em mượn xe máy đi có việc tí”. Do tin tưởng C nên anh T1 đồng ý cho mượn. Lấy được tài sản, C điều khiển chiếc xe mô tô của anh T1 đi ra thành phố Hà Nội để tìm nơi tiêu thụ và cắt mọi liên lạc với anh T1. Đến ngày 22/10/2023, C đã lên mạng tìm cửa hàng mua bán xe máy cũ ở Thanh Hóa và đã liên lạc với anh Vũ Đình V, sinh năm 1994, trú tại thôn E, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa là chủ cửa hàng mua bán xe máy cũ Vũ V chào bán xe. Anh V nhờ người quen là anh Vũ Văn P, sinh năm 2001, trú tại thôn G, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa hiện đang làm việc tại Hà Nội đến gặp C để kiểm tra xe. Do tìm được đăng ký xe mang tên Ngô Tiến T1 trong cốp xe nên C giới thiệu mình tên là T1, bảo đảm là xe chính chủ nên anh V tin tưởng và đồng ý mua xe với giá 16.000.000đ. Số tiền này C sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân hết. Sau khi mua xe, anh V bán lại chiếc xe này cho anh Hoàng Việt A, sinh năm 1989, trú tại 3 K, phường Đ, thành phố T với giá 17.500.000đ.
Anh Ngô Tiến T1 đã đến Công an phường Đ, thành phố T báo cáo sự việc. Theo báo cáo của bị hại, tổng số giá trị tài sản bị chiếm đoạt khoảng 36.000.000₫.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 126/KL-HDĐGTS ngày 14/11/2023 của Hội đồng định giá Ủy ban nhân dân T4 kết luận: Tài sản bị chiếm đoạt có giá là 23.500.000.
Về vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Sau khi biết xe mô tô là vật chứng của vụ án anh Việt A đã giao nộp cho Cơ quan điều tra. Ngày 30/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future màu xanh đen; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Ngô Tiến T1 cho chủ sở hữu là anh Ngô Tiến T1.
Đối với Vũ Đình V, Vũ Văn P, Hoàng Việt A khi mua xe không biết tài sản trên do C phạm tội mà có nên không xử lý hình sự.
Bị hại anh Ngô Tiến T1 đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì về mặt dân sự.
Anh Vũ Đình V yêu cầu C phải bồi thường số tiền anh đã đưa cho C để mua xe là 16.000.000₫.
Anh Hoàng Việt A đã nhận đủ số tiền mua xe của Vũ Đình V. Nên anh Hoàng Việt A, không có yêu cầu gì về mặt dân sự.
Lời khai nhận của bị cáo tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số /188/CT-VKSTPTH ngày 14/ 5/ 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, đã truy tố bị cáo Bùi Hữu C về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự .
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị HĐXX:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 174; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Khoản 1 Điều 48; Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Đ a, c khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.
Mức hình phạt đại diện VKS đề nghị áp dụng đối với bị cáo Bùi Hữu C: Từ 24 đến 30 tháng tù.
Phần dân sự: Buộc bị cáo phải có trách nhiệm trả lại cho anh Vũ Đình V số tiền bị cáo bán xe cho anh Vũ Đình V là 16.000.000đ.
Bị hại đã nhận được tài sản, không yêu cầu gì về phần dân sự. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Việt A đã nhận đủ số tiền mua xe của anh Vũ Đình V, nên không có yêu cầu gì về phần dân sự. Do đó công nhận phần dân sự giữa bị cáo với bị hại và giữa anh Vũ Đình V với anh Hoàng Việt A đã được giải quyyết xong.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST và án phí DSST theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiếm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:
Quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi quyết định của người tiến hành tố tụng.
[ 2]. Về hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận:
Do có mục đích chiếm đoạt từ trước, nên ngày 05/10/2023, Bùi Hữu C đã dùng thủ đoạn là lời nói gian dối làm cho anh Ngô Tiến T1 tin tưởng là thật, nên đã giao tài sản cho bị cáo mượn. Sau khi mượn được xe của anh Ngô Tiến T1 thì Bùi Hữu C điều khiển chiếc xe mô tô của anh T1 đi ra thành phố Hà Nội để tìm nơi tiêu thụ và cắt mọi liên lạc với anh T1. Bùi Hữu C đã bán xe của anh Ngô Tiến T1 để lấy tiền chi tiêu cá nhân. Kết quả định giá, chiếc xe Bùi Hữu C chiếm đoạt của anh T1 có trị giá 23.500.000đ.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo có đủ dấu hiệu cấu thành tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội danh được quy định tại Điều 174 của Bộ luật hình sự . Do bị cáo đã nhiều lần bị kết án với tình tiết “ Tái phạm nguy hiểm” chưa được xoá án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý trong vụ án này là thuộc trường hợp “ Tái phạm nguy hiểm”. Do đó bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 174 của bộ luật hình sự.
[3]. Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Do mục đích để có tiền chi tiêu cá nhân, Bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu. Hành vi của bị cáo thể hiện tính liều lĩnh, xem thường pháp luật và đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Do đó hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên cần được xử lý nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung.
[4]. Đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Không
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[ 5]. Về hình phạt:
Căn cứ vào nhân thân và tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì cần cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung.
[ 6] .Về trách nhiệm dân sự:
Xét yêu cầu của anh Vũ Đình V về việc yêu cầu bị cáo phải trả lại khoản tiền mua xe mà anh Vũ Đình V đã đưa cho bị cáo là hoàn toàn chính đáng và phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự, nên chấp nhận buộc bị cáo phải trả cho anh Vũ Đình V là 16.000.000đ.
Bị hại là anh Ngô Tiến T1 đã nhận được tài sản, không yêu cầu gì về phần dân sự. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Việt A đã nhận đủ số tiền mua xe của anh Vũ Đình V, nên không có yêu cầu gì về phần dân sự. Do đó công nhận phần dân sự giữa bị cáo với bị hại và giữa anh Vũ Đình V với anh Hoàng Việt A đã được giải quyyết xong.
[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm là 16.000.000.000₫ x 5% = 800.000đ, theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Đ a, c khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
Điểm d Khoản 2 Điều 174 ; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Khoản 1 Điều 48; Khoản 1 Điều 56 của Bộ luật hình sự .
Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự và Đ a, c khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Hữu C phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Bùi Hữu C 30 ( Ba mươi) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 38 ( Ba mươi tám) tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS - ST ngày 23/5/2024 của Toà án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 68 tháng ( 05 năm 08 tháng) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/01/2024 ( ngày chấp hành bản án trước).
Về trách nhiệm dân sự:
Công nhận phần dân sự giữa bị cáo với bị hại là anh Ngô Tiến T1 và phần dân sự giữa anh Vũ Đình V với anh Hoàng Việt A đã được giải quyyết xong.
Buộc bị cáo phải có trách nhiệm trả cho anh Vũ Đình V số tiền bị cáo nhận của anh Vũ Đình V khi bán xe cho anh Vũ Đình V là 16.000.000đ ( Mười sáu triệu đồng).
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bị cáo không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì phải chịu thêm lãi suất đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST và 800.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a 9 luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Ngô Tiến T1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Anh Vũ Đình V và anh Hoàng Việt A có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhân:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Hương |
Bản án số 273/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ, TỈNH THANH HÓA về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 273/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Hữu C
