Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 723/2023/HS-ST.

Ngày: 27/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Trúc Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Chánh.
  2. Ông Trần Văn Tam.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Võ Hồng Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 786/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 745/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Nguyễn Đình D (tên gọi khác: Không), sinh năm 1987 tại Đồng Nai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp P, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú hiện tại: 314/87, khu phố C, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1955 và con bà Bùi Thị K, sinh năm 1962; có vợ là Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1993 và có 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt, tạm giữ ngày 12/6/2023, chuyển tạm giam theo lệnh số 984 ngày 20/6/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an thành phố B (Bị cáo có mặt).

2/ Họ và tên: Tống Hoàng A (tên gọi khác: Không), sinh năm 1994 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: 62/69/5, khu phố C, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tống Hùng L sinh năm 1962 và con bà Nguyễn Thị Mỹ D1 sinh năm 1962; Bị cáo chưa có vợ con.

- Tiền án:

  • + Ngày 27/3/2019 bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà xử phạt 10 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” (chưa xóa án tích).
  • + Ngày 28/10/2021 bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà xử phạt 01 năm 6 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” (chưa xóa án tích).

- Tiền sự: không.

Bị bắt, tạm giữ ngày 12/6/2023, chuyển tạm giam theo lệnh số 983 ngày 20/6/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an thành phố B (Bị cáo có mặt).

2/ Bị hại: Chị Trần Thị L1, sinh năm 1987.

Địa chỉ: 1GA42, khu phố F, phường T, khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Đình DTống Hoàng A có quen biết với nhau. Khoảng 20 giờ ngày 02/6/2023, D rủ Hoàng A đi cướp giật tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài thì Hoàng A đồng ý. Để tránh bị phát hiện, Hoàng A tháo biển số xe 60P6-6528 và gắn biển số 60K8-3333 vào xe mô tô hiệu Max sau đó điều khiển chở D đến khu vực phường T, thành phố B. Khi đi ngang qua tiệm Spa “Lâm Anh” tại số A, tổ F, khu phố F, phường T, thành phố B do chị Trần Thị L1 làm chủ thì D phát hiện chị L1 đang nằm xem điện thoại trên ghế sofa, theo hướng quay mặt vào trong nhà nên D kêu Hoàng A điều khiển xe quay lại để D giật điện thoại của chị L1. Khi Hoàng A dừng xe trước tiệm Spa thì D xuống xe chạy vào trong tiệm giật chiếc điện thoại hiệu Iphone XS Max loại 256 Gb trên tay chị L1 rồi chạy ra ngồi lên xe để Hoàng A chở đi chạy thoát. Sau đó, D đem chiếc điện thoại trên đến cửa hàng sửa chữa, mua bán điện thoại “Lê Nguyễn " ở số D, đường N, khu phố D, phường Q, thành phố B bán cho anh Lê Thanh T (là chủ tiệm) với giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) chia cho Hoàng A 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), số tiền còn lại D với Hoàng A đã cùng nhau tiêu xài hết. Sau khi mất điện thoại, chị L1 đã trình báo Công an phường T lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Ngày 12/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã bắt, tạm giữ Nguyễn Đình DTống Hoàng A để điều tra, xử lý.

Tài liệu, vật chứng của vụ án:

  • - 01 (một) xe mô tô hiệu Max, Tống Hoàng A mượn của cha ruột là ông Tống Hoàng L2.
  • - 01 (một) biển số xe 60K8-3333, Tống Hoàng A khai nhặt được và gắn vào xe mô tô hiệu Max khi thực hiện hành vi phạm tội.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max loại 256GB Nguyễn Đình D khai đã đem đến cửa hàng sửa chữa, mua bán điện thoại “Lê Nguyễn " bán cho anh Lê Thanh T nhưng quá trình điều tra anh T không thừa nhận nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu hồi được và không có cơ sở kết luận.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu S J7 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo của Nguyễn Đình D.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia của Tống Hoàng A.
  • - 01 USB chứa hình ảnh camera ghi nhận sự việc các bị cáo cướp giật điện thoại của chị Trần Thị L1 (lưu trong hồ sơ vụ án).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 491/KL-HĐĐGTS ngày 18/9/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max loại 256GB trị giá 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng)”.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Trần Thị L1 yêu cầu bị cáo Nguyễn Đình DTống Hoàng A bồi thường 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng). Hiện các bị cáo chưa bồi thường.

Bản cáo trạng số: 767/CT/VKS-BH ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Đình D về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự; bị cáo Tống Hoàng A về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

  • + Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 171, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Đình D từ 01 (một) năm 02 (hai) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “cướp giật tài sản”.
  • + Điểm s khoản 1 Điều 51, điểm i khoản 2 Điều 171, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Tống Hoàng A từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “cướp giật tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc các bị cáo Tống Hoàng ANguyễn Đình D phải liên đới bồi thường cho chị Trần Thị L1 số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) theo quy định.

Các bị cáo không tranh luận, bào chữa về hành vi bị truy tố và không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, người tham gia tố tụng không có có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có cơ sở xác định các bị cáo Nguyễn Đình DTống Hoàng A đã có hành vi nhanh chóng chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác một cách công khai rồi tẩu thoát cụ thể như sau: Ngày 02/6/2023, bị cáo Nguyễn Đình DTống Hoàng A đã thực hiện hành vi cướp giật của chị Trần Thị L1 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max loại 256GB trị giá 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) thì bị bắt giữ để điều tra, xử lý. Bị cáo Nguyễn Đình D là người khởi xướng, rủ rê và trực tiếp thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Bị cáo Tống Hoàng A là người giúp sức cho bị cáo Duy thực h hành vi cướp giật tài sản. Mặc khác, bị cáo Tống Hoàng A có 02 tiền án về tội “trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục phạm tội cướp giật tài sản. Vì vậy, bị cáo Tống Hoàng A đã phạm vào tình tiết định khung tái phạm nguy hiểm. Với hành vi nêu trên, bị cáo Nguyễn Đình D đã phạm tội “Cướp giật tài sản” tội phạm và hình phạt theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo Tống Hoàng A đã phạm tội “Cướp giật tài sản” tội phạm và hình phạt theo điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Từ những căn cứ trên, xét thấy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Các bị cáo là người đã trưởng thành đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, khá táo bạo, liều lĩnh và xem thường pháp luật, đã lợi dụng sơ hở của người khác chiếm đoạt tài sản một cách công khai trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích có tiền để thoả mãn nhu cầu tiêu xài cá nhân. Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn. Bị cáo D có vai trò là người khởi xướng, rủ rê, trực tiếp thực hiện hành vi cướp giật tài sản nên giữ vai trò chính, bị cáo Anh là giúp sức tích cực. Bị cáo A có nhân thân xấu, từng bị xét xử về tội trộm cắp tài sản. Nhưng bị cáo không coi đó là bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với nhân thân, vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Không có.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Riêng bị cáo D có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự nên hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp và không có điều kiện về kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về xử lý tài liệu, vật chứng:

  • - 01 (một) xe mô tô hiệu Max, bị cáo A mượn của cha ruột là ông Tống Hoàng L2. Do ông L2 không biết việc bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho ông L2 là phù hợp.
  • - 01 (một) biển số xe 60K8-3333, bị cáo A khai nhặt được và gắn vào xe mô tô hiệu Max khi thực hiện hành vi phạm tội. Kết quả xác minh biển số trên trùng với biển số xe mô tô của anh Huỳnh Phú Q, ngụ tại I, tổ A, ấp B, phường H, thành phố B nhưng qua làm việc anh Q xác định không bị mất biển số xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục tạm giữ để xác minh, xử lý.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max loại 256GB Nguyễn Đình D khai đã đem đến cửa hàng sửa chữa, mua bán điện thoại “Lê Nguyễn " bán cho anh Lê Thanh T nhưng quá trình điều tra anh T không thừa nhận nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu hồi được và không có cơ sở kết luận.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu S J7 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo của bị cáo D, do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho bị cáo D là phù hợp.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia của bị cáo A, do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho bị cáo A là phù hợp.
  • - 01 USB chứa hình ảnh camera ghi nhận sự việc các bị cáo cướp giật điện thoại của chị Trần Thị L1 nên lưu trong hồ sơ vụ án.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Chị Trần Thị L1 chưa nhận lại chiếc điện thoại di động hiệu Iphone XS Max loại 256GB do các bị các cướp giật và tiêu thụ không thu hồi được. Chị Trần Thị L1 yêu cầu các bị cáo liên đới bồi thường cho chị L1 số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) là trị giá chiếc điện thoại. Hiện các bị cáo chưa bồi thường. Tại phiên tòa, các bị cáo đồng ý liên đới bồi thường cho chị L1 số tiền 7.000.000 đồng. Cụ thể, mỗi bị cáo bồi thường cho chị L1 số tiền 3.500.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

[9] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án buộc các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 175.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Tống Hoàng A phạm tội: “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Tống Hoàng A 03 (ba) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2023.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình D phạm tội: “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình D 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2023.

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015:

Buộc bị cáo Tống Hoàng A, Nguyễn Đình D mỗi bị cáo phải bồi thường cho chị Trần Thị L1 số tiền 3.500.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Q1 về án phí: Buộc các bị cáo Tống Hoàng A, Nguyễn Đình D mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 175.000 đồng (Một trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa (2);
  • - Nhà tạm giữ Công an TP. Biên Hòa (1);
  • - Thi hành án hình sự (6);
  • - Bị cáo (2);
  • - Bị hại (1);
  • - Lưu hồ sơ vụ án .

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trần Trúc Thủy

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
PHIÊN TÒA

Trần Văn Chánh

Phạm Thị Hải A1

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA

Trần Thị Kim D2

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa (2);
  • - Nhà tạm giữ Công an TP. Biên Hòa (1);
  • - Thi hành án hình sự (6);
  • - Ủy ban nhân dân xã An Hòa, thành phố Biên Hòa (1);
  • - Bị cáo (1);
  • - Bị hại (1);
  • - Lưu hồ sơ vụ án (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Kim Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 723/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về cướp giật tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 723/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình Duy đồng phạm cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger