Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 273/2024/HS-ST

Ngày: 26 – 9 – 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Anh Thi.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Kiều.

Bà Phạm Thị Bé.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Sao Mai, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 309/2024/TLST- HS ngày 12/9/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 346/2024/QĐXXST-HS ngày 16/9/2024 đối với các bị cáo:

1. Kiêm Duy T, sinh năm: 1993 tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi thường trú: Số A, ấp A, xã A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nơi tạm trú: Số A khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: Công Giáo; Nghề nghiệp: Nhân viên; Trình độ văn hóa: 6/12; Con ông Kiêm S và bà Nguyễn Thị Tuyết L; Có vợ Nguyễn Thị Minh H (đã ly hôn) và có 02 người con; Tiền sự: Không.

Tiền án: Bản án số 68/2023/HSPT ngày 01/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 50.000.000 đồng về tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Nhân thân: Bản án số 58/2011/HSPT ngày 06/4/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 5 năm 6 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/5/2024 cho đến nay. Có mặt.

2. Nguyễn Hoàng Hồng A, sinh năm 1996 tại tỉnh Tây Ninh; Nơi thường trú: Số C khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 7/12; Con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị H1; Có vợ Lê Thị Thu H2 và có 04 người con; Tiền sự: Không.

1

Tiền án: Bản án số 42/2021/HSST ngày 26/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/8/2024 cho đến nay. Có mặt.

3. Nguyễn Văn Q, sinh năm 2000 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi thường trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nơi tạm trú: Số A khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Nguyễn Văn K và bà Phạm Thị Hồng L1; Có vợ Kim Kỳ D và có 01 người con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/5/2024 cho đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Ông Đỗ Thành L2, sinh năm 1957; Nơi thường trú: 203/3, tổ B khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

+ Ông Trần Tấn Đ1, sinh năm 1992; Nơi thường trú: 1151/6 L, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Tạm trú: Số A, khu phố T, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Bà Kim Kỳ D. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 4/2024, Kiêm Duy T rủ Nguyễn Hoàng Hồng A mua pháo nổ về bán kiếm lời. T liên lạc với 01 đối tượng (không rõ thông tin nhân thân, lai lịch) mua pháo, bên bán giao cho T nhiều lần, mỗi lần từ 3 đến 4 cục và giao tại phòng trọ của T, số A, khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Hồng A dùng điện thoại di động của mình đăng nhập vào tài khoản Zalo của T mang tên Trương Thành T1 để đăng bài bán pháo.

Ngày 18/5/2024, T nói với Hồng A đến phòng trọ của T phụ nhận pháo và đem giấu vào phòng của T, thời gian nhận từ khoảng 08 giờ đến 11 giờ 00 phút các ngày 18 và 19/5/2024. Thời gian này có nhiều đối tượng đi xe mô tô đến phòng trọ của T giao nhiều cục pháo nên T và Hồng A chia ra bỏ vào 04 thùng.

Đến khoảng 07 giờ 30 phút ngày 22/5/2024, Hồng A đi đến phòng trọ của T, do sợ bị phát hiện nên T tìm chỗ khác cất giấu pháo nổ. T điện thoại cho Nguyễn Văn Q nhờ gửi 02 thùng pháo tại phòng trọ của Q thì Q đồng ý. Khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, T và Hồng A đem 2 thùng chứa pháo qua phòng trọ số 9 của vợ chồng Nguyễn Văn Q và bà Kim Kỳ D cất giấu, Q mang 02 thùng chứa pháo lên gác cất giấu trên gác, Q nhìn thấy pháo trong thùng, còn bà D không biết. Sau khi gửi được 02 thùng pháo, T tiếp tục điện thoại cho ông Trần Tấn Đ1 ở phòng trọ số 05 cùng dãy trọ với T để gửi 02 thùng chứa pháo còn lại, T không nói cho Đ1 biết bên trong có pháo nổ và Đ1 cũng không có ở phòng trọ. Đ1 đồng ý cho T gửi 02 thùng giấy, do đang đi làm nên Đ1 chỉ cho T vị trí để lấy chìa khóa mở phòng, Hồng A mang 02 thùng giấy bên trong có chứa pháo nổ cất vào bên trong phòng của Đ1 rồi đi ra ngoài. Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, Công an phường A tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện trên gác phòng trọ số 09 của Nguyễn Văn Q và Kim Kỳ D có 02 thùng xốp, thùng thứ nhất có 08 cục hàng hình chữ nhật bên ngoài có in tiếng nước ngoài mã số KS8-

2

0915L; 01 cục hàng hình chữ nhật bên ngoài có in tiếng nước ngoài mã số KS4-4911; 02 vật lớn hình dáng giống bóng đèn sợi tóc có gắn dây; 05 vật nhỏ hình dáng giống bóng đèn sợi tóc có gắn dây (mẫu ký hiệu số 1); thùng thứ hai có 08 cục hàng hộp hình chữ nhật bên ngoài có in tiếng nước ngoài và mã số KS8-0915L (mẫu ký hiệu số 1) nên tiến hành thu giữ. Cùng ngày, Công an thành phố T tiến hành tiến hành khám xét phòng trọ số 5 của ông Trần Tấn Đ1 phát hiện cạnh cửa có 02 thùng giấy bên trong có pháo nổ, thùng thứ nhất có 07 cục hàng hình hộp chữ nhật bên ngoài có in tiếng nước ngoài và mã số KS4-4911; 04 cục hàng hình hộp chữ nhật bên ngoài có in tiếng nước ngoài và mã số T4049 (mẫu ký hiệu số 2); Thùng thứ hai có 14 cục hàng hình hộp chữ nhật bên ngoài có in tiếng nước ngoài và mã số KS4-4911; 04 cục hàng hình hộp chữ nhật bên ngoài có in tiếng nước ngoài và mã số KS4-4911L (mẫu ký hiệu số 2).

Kết luận giám định số 3207/KL-KTHS ngày 24/5/2024 của Phân viện KHHS tại Thành phố Hồ Chí Minh - Bộ C kết luận:

Mẫu ký hiệu số 1 gồm 16 khối hình chữ nhật, kích thước 13cmx13cmx20cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc có ký hiệu “KS8-0915L”, bên trong mỗi khối có 09 ống giấy; 01 khối hình chữ nhật, kích thước 17cmx17cmx10cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc có ký hiệu “KS4-4911”, bên trong khối có 49 ống giấy; 07 vật dạng bóng đèn tròn trong đó có 02 vật lớn và 05 vật nhỏ có gắn đoạn dây trên phần trụ gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng 32,6kg. Mẫu ký hiệu số 2 gồm 21 khối hình chữ nhật, kích thước 17cmx17cmx10cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc có ký hiệu “KS4-4911”, bên trong mỗi khối có 49 ống giấy; 04 khối hình chữ nhật, kích thước 17cmx17cmx10cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc có ký hiệu “KS4-4911L”, bên trong mỗi khối có 49 ống giấy; 04 khối hình chữ nhật, kích thước 17cmx17cmx10cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc có ký hiệu “T4049”, bên trong mỗi khối có 49 lỗ tròn. Mẫu vật ký hiệu số 1 và mẫu vật ký hiệu số 2 gửi giám định là pháo nổ. Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng 50kg.

Bản Cáo trạng số 277/CT-VKS-TA ngày 11/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố các bị cáo:

Kiêm Duy T, Nguyễn Hoàng Hồng A về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm g khoản 2 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Nguyễn Văn Q về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 190; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt các bị cáo:

Kiêm Duy T từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm 06 tháng tù.

Nguyễn Hoàng Hồng A từ 06 năm đến 07 năm tù.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ

3

luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy: 1 sim số 0967.310.737.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 1 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S7 và 01 điện thoại Samsung màu xanh sử dụng vào việc phạm tội.

Giao Ban chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Dương để tiêu hủy theo quy định: 03 thùng giấy mẫu vật còn lại sau giám định gồm 13 khối hình hộp kích thức (13x13x10cm) ký hiệu KS8-0915L; 05 vật dạng bóng đèn tròn (01 vật lớn và 04 vật nhỏ) có gắn đoạn dây; 19 khối hình hộp, kích thước (17cmx17cmx10cm), ký hiệu KS4-4911; 03 khối hình hộp, kích thước (17cmx17cmx10cm), ký hiệu KS4-4911L; 03 khối hình hộp (17cmx17cmx10cm), ký hiệu T4049.

Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo Kiêm Duy T2, Nguyễn Hoàng Hồng A, Nguyễn Văn Q tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án như biên bản kiểm tra hành chính, vật chứng thu giữ, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng có đủ cơ sở kết luận:

Trong các ngày 18 và 19 tháng 5 năm 2024, các bị cáo Duy T2, Hồng A mua tổng cộng 82,6kg pháo nổ về chia đựng vào 04 thùng để bán cho người khác. Đến ngày 22/5/2024, trong lúc các bị cáo đang cất giấu các thùng pháo này tại dãy nhà trọ số A, khu phố T, phường A, thành phố T để bán thì bị phát hiện cùng tang vật. Bị cáo Q biết đây là hàng cấm nhưng vẫn giúp sức tàng trữ 02 thùng pháo với tổng trọng lượng 32,6kg trong phòng trọ mình thuê.

Hành vi của các bị cáo Kiêm Duy T2, Nguyễn Hoàng Hồng A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm g khoản 2 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố

4

đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Xét Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm nhưng vì tư lợi, các bị cáo Duy T2 và Hồng A vẫn mua pháo nổ về bán lại cho người khác nhằm thu lời bất chính. Bị cáo Q biết pháo là hàng cấm nhưng vẫn giúp sức tàng trữ, cất giấu. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý kinh tế, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Lỗi của các bị cáo là cố ý trực tiếp nên cần xử phạt mức án tương xứng, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Về đồng phạm: Vụ án có tính đồng phạm nhưng đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, phân công cụ thể. Tuy nhiên, bị cáo Duy T2 là người khởi xướng, bản thân đã nhiều lần bị Tòa án xử phạt về hành vi phạm tội, không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội, thể hiện vai trò cao hơn, tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn nên phải chịu mức hình phạt cao hơn.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Duy T2, Hồng A phạm tội thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Ngoài ra, bị cáo Q còn phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ theo điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[8] Lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.

[9] Về xử lý vật chứng và biện pháp tự pháp: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát Điều tra thu giữ:

82,6kg pháo hoa là hàng cấm nên Cơ quan Điều tra đã giao cho Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh B xử lý theo quy định.

1 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S7, màu trắng, số Imei: 1358300707025301 của T2 và 01 điện thoại Samsung màu xanh của Q sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

1 sim số 0967.310.737 của T2 sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

[10] Đối với các đối tượng bán pháo cho các bị cáo hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

[11] Ông Đỗ Thành L2 là chủ dãy trọ, ông Trần Tấn Đ1 và bà Kim Kỳ D (vợ của Nguyễn Văn Q) không biết các bị cáo gửi thùng có pháo nổ, Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý.

[12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

5

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm g khoản 2 Điều 190; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Các Điều 46, 47, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo: Kiêm D, Nguyễn Hoàng Hồng A.

- Điểm c khoản 1 Điều 191; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Các Điều 46, 47, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Văn Q.

- Các Điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

I. Về trách nhiệm hình sự:

1. Tuyên bố các bị cáo: Kiêm Duy T, Nguyễn Hoàng Hồng A phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

2. Xử phạt các bị cáo:

2.1. Kiêm Duy T 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 23/5/2024.

2.2. Nguyễn Hoàng Hồng A 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 04/8/2024.

2.3. Nguyễn Văn Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 23/5/2024.

II. Về xử lý vật chứng và biện pháp tự pháp:

- Tịch thu, tiêu hủy: 1 sim số 0967310737.

- Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước: 1 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S7, màu trắng, số Imei: 1358300707025301 và 01 điện thoại Samsung màu xanh.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 19/9/2024 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An)

- Tiếp tục giao cho Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh B 82,6kg pháo hoa để tiêu hủy theo quy định.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/8/2024 giữa Công an thành phố T và Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh B)

III. Về án phí:

Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

IV. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

6

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Thuận An;
  • - Công an, Chi cục THADS thành phố Thuận An;
  • - Chánh án (để báo cáo);
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, THAHS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Anh Thi

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 273/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương về vụ án hình sự về tội "buôn bán hàng cấm" và "tàng trữ hàng cấm"

  • Số bản án: 273/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Buôn bán hàng cấm" và "Tàng trữ hàng cấm"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo: Kiêm Duy T, Nguyễn Hoàng Hồng A phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger