Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 273/2024/HNGĐ-ST

Ngày 26 – 4 – 2024

V/v ly hôn Hạnh – Lợi

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Rỡ

  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Phương và ông Nguyễn Văn Ngân

  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 380/2023/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 10 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 103/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Trần Thị Bích H, sinh năm 1983; nơi cư trú: Số H, tổ A, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, xin vắng mặt.

  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Quách Thanh P-Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A, xin vắng mặt.

  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1992; nơi cư trú: Số A, tổ C, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo khởi kiện ngày 15/8/2023 và lời khai của nguyên đơn chị Trần Thị Bích H trình bày: Thông qua mai mối, năm 1999 chị H với anh L được hai bên gia đình tác hợp và tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh An Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 08 ngày 06/02/2012. Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc và có 02 con chung. Đến giữa năm 2012 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh L có biểu hiện sống không chung thuỷ, nhiều lần vợ chồng cự cải và đánh nhau, chị H và anh L nhiều lần ly thân được gia đình hàn gắn nên vợ chồng sum họp. Sau đó lại phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thiếu tin tưởng nhau, anh L thường xuyên uống rượu về kiếm chuyện đánh vợ con. Anh L còn cờ bạc (đá gà) nhiều lần chị H khuyên ngăn anh L hứa hẹn nhưng không thực hiện, lại tiếp tục không chung thủy, ăn chơi, rượu chè không lo làm ăn, không phụ giúp chị H lo cho con, nhiều lúc chị H phải đưa tiền cho anh L tiêu xài. Có lần anh L xúc phạm chị H cho rằng chị có quan hệ với con trai của chủ nhà trọ nên vợ chồng thường xuyên cự cải, đánh nhau dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc kéo dài đến năm 2014 thì ly thân cho đến nay. Nay chị H không còn tình cảm với anh L vì vậy yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn L

Chị H và anh L có 02 con chung tên Nguyễn Quang S, sinh ngày 29/9/2000 đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết và Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 18/3/2006 hiện đang sống với chị H. Khi ly hôn chị H yêu cầu tiếp tục nuôi con chung Ngọc Trâm, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Chị và anh L không có tài sản chung, nợ chung

Bị đơn anh Nguyễn Văn L vắng mặt, không có ý kiến trình bày.

Luật sư Quách Thanh P - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày quan điểm:

Về hôn nhân: Năm 1999 chị H và anh L chung sống với nhau như vợ chồng có đăng ký kết hôn. Năm 2012 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do vợ chồng bất đồng quan điểm, thiếu sự tin tưởng và chung thuỷ với nhau. Vợ chồng thường xuyên cự cãi và thời gian ly thân kéo dài từ năm 2014 đến nay. Vì vậy chị H yêu cầu ly hôn là có căn cứ.

Về con chung: Chị H và anh L có 02 con chung tên Nguyễn Quang S, sinh ngày 29/9/2000 đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết và Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 18/3/2006 hiện đang sống với chị H, chị yêu cầu tiếp tục nuôi con chung, cháu T cũng có nguyện vọng sống với mẹ do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản và nợ: Không có

Từ những ý kiến trình bày nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56; Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H và giao con chung Nguyễn Thị Ngọc T cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân phát biểu ý kiến:

  • + Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do cho thấy bị đơn không chấp hành đúng quy định Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự.

  • + Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chị Trần Thị Bích H được ly hôn anh Nguyễn Văn L, chị H và anh L có 02 con chung, Nguyễn Quang S đã trưởng thành nên không giải quyết, chị H được tiếp tục nuôi con chung Nguyễn Thị Ngọc T. Chị H không yêu cầu nên không buộc anh L cấp dưỡng nuôi con. Chị H và anh L không có tài sản chung, nợ chung nên không xem xét giải quyết. Về án phí chị H phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

  • [1.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn bị đơn có nơi cư trú tại xã P, huyện P, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự.

  • [1.2] Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do, do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung giải quyết vụ án:

  • [2.1] Về hôn nhân: Chị H và anh L tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 08 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh An Giang cấp ngày 06/02/2012 nên hôn nhân là hợp pháp. Xét thấy, anh chị vi phạm nghĩa vụ vợ chồng phải chung thủy, yêu thương, tin tưởng, quan tâm và chung sống với nhau được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình. Ngoài ra, anh L còn có hành vi bạo lực gia đình, thời gian ly thân kép dài. Hôn nhân của anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu ly hôn là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H.

  • [2.2] Về nuôi con chung: Chị H và anh L có 02 con chung tên Nguyễn Quang S, sinh ngày 29/9/2000 đã trưởng thành và Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 18/3/2006 hiện đang sống với chị H. Từ khi vợ chồng ly thân đến nay chị H là người trực tiếp nuôi con chung Ngọc Trâm, cháu T cũng có nguyện vọng sống với chị H. Để ổn định cuộc sống của cháu T nên Hội đồng xét xử giao con chung Ngọc Trâm cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng. Chị H không yêu cầu nên không buộc anh L phải cấp dưỡng nuôi con.

  • [2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị H trình bày không có tài sản chung, nợ chung nên không xem xét giải quyết.

  • [2.4] Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 91, Điều 147, Điều 266, Điều 322 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326//2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Bích H.

  1. Về hôn nhân: Chị Trần Thị Bích H được ly hôn anh Nguyễn Văn L.

  2. Về con chung: Chị H và anh L có 02 con chung tên Nguyễn Quang S, sinh ngày 29/9/2000 đã trưởng thành và Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 18/3/2006 hiện đang sống với chị H. Giao con chung Ngọc Trâm cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng. Chị H không yêu cầu nên không buộc anh L phải cấp dưỡng nuôi con.

    Chị H và các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ tạo điều kiện cho anh L đến thăm nom, chăm sóc con chung; không ai được cản trở anh P1 thực hiện quyền này.

    Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là không cố định. Một trong các bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét việc thay đổi nuôi con và cấp dưỡng nuôi con nếu có yêu cầu.

  3. Về tài sản chung: Không

  4. Về nợ: Ghi nhận chị H trình bày không có nợ chung, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.

  5. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006496 ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân. Anh L không phải chịu án phí.

  6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang

  • - VKSND huyện Phú Tân;

  • - Chi cục THADS huyện Phú Tân

  • - UBND xã Phú Thọ, huyện Phú Tân;

  • - Các đương sự;

  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Thị Rỡ

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 273/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 273/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: H xin ly hôn L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger