Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 273/2024/DS-ST

Ngày: 24/9/2024

“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Tập

2. Ông Nguyễn Tiến Dũng

- Thư ký phiên tòa: Ông Y Kăn Niê – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Xuân Trang- Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 784/2024/TLST-DS ngày 13 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 276A/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 8 năm 2024 giữa:

* Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thanh T – Sinh năm: 2000 (Vắng mặt)

Căn cước công dân số: [...] cấp ngày 26/12/2021 tại Cục C về TTXH.

Địa chỉ: Số 1 đường B, phường B, Quận T, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh T:

  1. Bà Hoàng Trần Ngọc A - Sinh năm : 1997 (Có mặt)
  2. Bà Nguyễn Thị Thanh Thanh T1 - Sinh năm: 1998 (Vắng mặt)
  3. Ông Lê Q – Sinh năm: 1985 (Vắng mặt và có Đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt)
  4. Bà Lê Thị Q1 – Sinh năm: 2001 (Vắng mặt và có Đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Tầng B, Tòa nhà T, số H N, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng.

* Bị đơn: Bà Trần Mỹ T2 – Sinh ngày: 04/11/1992. Căn cước công dân số [...] tại Cục C1 về TTXH (Vắng mặt)

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số C đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 16/6/2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là bà Hoàng Trần Ngọc A trình bày:

Bà Phạm Thị Thanh T và bà Trần Mỹ T2 là có mối quan hệ quen biết nên thân thiết và tin tưởng lẫn nhau. Trong khoảng thời gian từ ngày 19/01/2023 đến ngày 01/03/2023 bà T2 có hỏi vay tiền bà T nhiều lần với tổng số tiền là 660.000.000 (Sáu trăm sáu mươi triệu đồng), vay không lãi suất thông qua tin nhắn M và số điện thoại để lo công việc và hứa hẹn sẽ trả lại bà T số tiền vay. Vì là quen biết, bà T rất tin tưởng bà T2 nên việc vay mượn tiền giữa hai bên không lập thành văn bản, các lần vay tiền đều thông qua hình thức chuyển khoản. Cụ thể, bà T đã chuyển khoản cho bà T2 mượn tiền năm lần thông qua số tài khoản 194884329 tại Ngân hàng thương mại Cổ phần Á (A1), chủ tài khoản mang tên Trần Mỹ T2. Bà T sử dụng hai tài khoản ngân hàng mang tên bà T để chuyển khoản cho bà T2, tài khoản thứ nhất: Chủ tài khoản: Phạm Thị Thanh T, số tài khoản 9299468 của Ngân hàng thương mại Cổ phần Á (A1) – Chi nhánh T4 (01 B A, Phường H, Quận E, TP .); Tài khoản thứ hai: Chủ tài khoản: Phạm Thị Thanh T, số tài khoản: 9789785904 của Ngân hàng thương mại cổ phần N – Chi nhánh Đ.

Các lần bà T chuyển khoản cho bà T2 mượn tiền cụ thể như sau:

Lần 1: Ngày 19/01/2023, bà T2 có nhắn tin mượn tiền bà T và hẹn ngày 27/01/2023 (Tức ngày 06/01/2023 âm lịch) sẽ trả cho bà T. Từ số tài khoản ngân hàng Á của bà T vào lúc 09 giờ 36 phút ngày 19/01/2023 bà T đã chuyển khoản 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) cho bà T2.

Lần 2: Ngày 15/02/2023, bà T2 tiếp tục nhắn tin hỏi vay bà T 200 triệu đồng để lấy hàng về: “Chị đang gom lấy lô hàng 20/2...đang thiếu 200 triệu bên em có nguồn tiền không Thùy.” Nhưng bà T chỉ còn 100.000.000 đồng nên lúc 13 giờ 13 phút ngày 15/02/2023 bà T đã chuyển trước cho bà T2 vay 100.000.000 đồng. Cùng ngày, bà T2 tiếp tục nhắn tin hối thúc bà T chuyển 100 triệu còn lại: “Chị hỏi cái 100 triệu kia có cách nào chuyển khoản giờ được không? Bên chổ sang hàng chủ họ muốn nhận đủ luôn..để trả tiền gì á.” và bà T2 hứa “20 tiền về chị đưa lại và tiền lời cho”. Do tin tưởng bà T2 nên lúc 17 giờ 35 phút ngày 15/02/2023 bà T đã sử dụng tài khoản ngân hàng V đã chuyển tiếp 100.000.000 đồng cho bà T2.

Lần 3: Ngày 17/02/2023, bà T2 tiếp tục nhắn tin hỏi mượn tiền bà T 100 triệu và hẹn ngày 18/02/2023 sẽ trả: “Thùy em còn 100 triệu ở đó nữa không? Nếu còn bắn chị mượn sáng mai người ta đem đô qua chị đổi chuyển khoản trả cái 100 triệu với 30 triệu qua cho em luôn”. Lúc 14 giờ 06 phút ngày 17/02/2023 bà T chuyển khoản cho bà T2 vay 100.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng Á.

Lần 4: Ngày 18/02/2023, Bà T2 lại nhắn tin mượn tiền bà T: “Em ở đó có gom được 300 triệu không Thùy? Chị đang chờ đưa đô qua mà sợ không kịp sáng nay chuyển khoản công việc cho người ta? Đang cần chuyển khoản đi trước..em coi dùm chị có gom được chuyển khoản chị mượn chiều người ta đưa đô qua kịp chị ra đổi chị chuyển khoản qua này với 130 triệu hôm qua luôn.” Vào lúc 11 giờ ngày 18/02/2023, bà T đã chuyển cho bà T2 mượn 300.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng Á

Lần 5: Ngày 01/03/2023, bà T2 nhắn tin cho bà T để mượn tiền: “Thùy em còn 100 triệu không chuyển khoản dùm chị mượn chị về chị đi đổi tiền chuyển khoản 750 triệu luôn. Có gì mai chị về chị xử lý tiền chuyển khoản lại em. Có gì chuyển khoản chị mượn cái nha Thùy”. Tuy nhiên, bà T chỉ còn 30 triệu nên lúc 18 giờ 07 phút ngày 01/03/2023 bà T đã chuyển cho bà T2 mượn 30.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng Á.

Như vậy, tại thời điểm ngày 01/03/2023 bà T2 xác nhận nếu bà T chuyển cho bà T2 mượn đủ 100 triệu thì bà T2 sẽ trả nợ cho bà T 750.000.000 đồng (Bao gồm tiền gốc 730.000.000 đồng và 20.000.000 đồng tiền bà T2 cho thêm). Tuy nhiên, bà T chỉ chuyển cho bà T2 mượn 30.000.000 đồng nên số tiền gốc bà T2 xác nhận còn nợ bà T đến thời điểm này là 660.000.000 đồng.

Như vậy, Bà Trần Mỹ T2 có trách nhiệm trả nợ cho Bà T số tiền 660.000.000 đồng (Sáu trăm sáu mươi triệu đồng). Thế nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ là vi phạm quy định tại Điều 280, khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự 2015. Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 4 Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 thì ngày 02/3/2023 là thời điểm đến hạn trả nợ, các bên đã có nhắn tin trao đổi, xác nhận số tiền bà T2 còn nợ 660.000.000 đồng. Do vậy, đến ngày 02/03/2023, bà T2 phải thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền này. Tuy nhiên, đến nay bà T2 vẫn chưa trả nên căn cứ theo các quy định nêu trên, bà T2 còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng thời gian chậm trả. Lãi suất áp dụng là 10%/năm, được tính theo công thức sau: Lãi chậm trả = nợ gốc chưa trả x lãi chậm trả x thời gian chậm trả là 572 ngày (Tạm tính từ ngày bà T2 vi phạm nghĩa vụ thanh toán ngày 03/03/2023 cho đến ngày xét xử ngày 24/9/2024). Vậy số tiền lãi phải trả là 103.430.136 đồng

Như vậy, tổng số tiền mà bà T2 có nghĩa vụ phải thanh toán cho bà T tạm tính đến ngày xét xử ngày 24/9/2024 là: 660.000.000 đồng gốc + 103.430.136 đồng tiền lãi = 763.430.136 đồng.

Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Phạm Thị Thanh T, cụ thể là: Buộc bà Trần Mỹ T2 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà Phạm Thị Thanh T tiền gốc là 660.000.000 (Sáu trăm sáu mươi triệu đồng). Buộc bà Trần Mỹ T2 phải trả số tiền lãi chậm trả, tạm tính từ ngày bà Trần Mỹ T2 vi phạm nghĩa vụ thanh toán là ngày 03/3/2023 đến ngày 24/6/2024 là: 103.430.136 đồng. Đồng thời, tiếp tục tính lãi chậm trả kể từ sau ngày xét xử cho đến khi thanh toán xong nợ gốc. Tổng số tiền mà bà Trần Mỹ T2 phải thanh toán cho bà Phạm Thị Thanh T là 763.430.136 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do nên không thể tiến hành lấy lời khai của bị đơn.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột phát biểu ý kiến như sau: Về tố tụng: Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ của vụ án từ khi thụ lý đến khi xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 220, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh T. Buộc bà Trần Mỹ T2 có nghĩa vụ trả cho bà Phạm Thị Thanh T số tiền nợ gốc là 660.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh T khởi kiện bị đơn bà Trần Mỹ T2 – Hộ khẩu thường trú: Số nhà C đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn bà Trần Mỹ T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai, tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải được. Theo yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án đã tiến hành các thủ tục đăng, phát thông báo trên báo, đài đối với bị đơn bà Trần Mỹ T2. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung:

[3.1] Về tiền gốc: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh T khởi kiện yêu cầu buộc bị đơn bà Trần Mỹ T2 phải trả cho bà Phạm Thị Thanh T số tiền gốc là 660.000.000 đồng.

Do có mối quan hệ quen biết, thân thiết, tin tưởng lẫn nhau nên giữa nguyên đơn và bị đơn không lập hợp đồng vay tiền, việc vay tiền được bà T, bà T2 thỏa thuận thông qua tin nhắn trên mạng xã hội, việc giao nhận tiền được thực hiện thông qua hình thức chuyển khoản.

Qua các công văn trả lời của các ngân hàng nơi nguyên đơn và bị đơn mở tài khoản, nội dung như sau:

Công văn số 805/ĐAN ngày 07/6/2024 và công văn số 882/ĐAN-KT ngày 19/6/2024 của Ngân hàng TMCP N – Chi nhánh Đ nội dung xác nhận ngày 15/02/2023 sao kê tài khoản 9789785904, chủ tài khoản PHAM THI THANH THUY giao dịch ghi nợ số tiền 200.000.000 đồng (chuyển khoản hai lần, mỗi lần 100.000.000 đồng) đến số tài khoản 194884329 tại ngân hàng TMCP Á nội dung "Thuy ck chi tran".

Công văn số 602/CV-DAL.24 ngày 07/6/2024, Công văn số 628/CV-DAL.24 ngày 19/6/2024 và Công văn số 39/CV-TRN.24 ngày 10/7/2024 của Ngân hàng TMCP Á nội dung xác nhận số tài khoản 9299468, chủ tài khoản Phạm Thị Thanh T, sinh năm 2000, Căn cước công dân số [...], nơi mở tài khoản Ngân hàng TMCP Á – Phòng G KHAI NGUYEN. Số tài khoản 194884329, chủ tài khoản Trần Mỹ T2, sinh năm1992, Căn cước công dân dân số [...], nơi mở tài khoản Ngân hàng TMCP Á – Phòng G1. Ngày 19/01/2023 số tài khoản 9299468 thực hiện giao dịch chuyển khoản 30.000.000 đồng vào số tài khoản 194884329 với nội dung “IB PHAM THI THANH THUY THUY CK NI”. Ngày 17/02/2023 số tài khoản 9299468 thực hiện giao dịch chuyển khoản 100.000.000 đồng vào số tài khoản 194884329 với nội dung “IB PHAM THI THANH THUY THUY CK CHI TRAN”. Ngày 18/02/2023 số tài khoản 9299468 thực hiện giao dịch chuyển khoản 30.000.000 đồng vào số tài khoản 194884329 với nội dung “IB PHAM THI THANH THUY THUY CK CHI TRAN”. Ngày 02/3/2023 số tài khoản 9299468 thực hiện giao dịch chuyển khoản 30.000.000 đồng vào số tài khoản 194884329 với nội dung “IB PHAM THI THANH THUY THUY CK CHI TRAN”. Ngày 15/02/2023, số tài khoản 194884329 biến động ghi có 200.000.000 đồng với hai lần nhận chuyển khoản từ số tài khoản 9789785904, tên chủ tài khoản Phạm Thị Thanh T mở tại ngân hàng TMCP N, mỗi lần chuyển khoản 100.000.000 đồng, nội dung “Thuy ck chi tran”.

Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ xác định bà Trần Mỹ T2 có vay tiền của bà Phạm Thị Thanh T năm lần, các lần cụ thể: Lần 1: Ngày 19/01/2023 vay số tiền 30.000.000 đồng. Lần hai, ngày 15/02/2023 vay số tiền 200.000.000 đồng. Lần ba, ngày 17/02/2023 vay số tiền 100.000.000 đồng. Lần bốn, Ngày 18/02/2023 vay số tiền 300.000.000 đồng. Lần năm, ngày 01/03/2023 vay số tiền 30.000.000 đồng. Tổng cộng cả năm lần bà T2 vay của bà T số tiền 660.000.000 đồng. Nay bà Phạm Thị Thanh T khởi kiện yêu cầu bà Trần Mỹ T2 phải trả số tiền gốc là 660.000.000 đồng là có căn cứ cần chấp nhận.

[3.2] Về tiền lãi: Nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh T yêu cầu bị đơn bà Trần Mỹ T2 phải trả tiền lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự là 10%/năm kể từ ngày quá hạn trả nợ là ngày 03/3/2023 tính đến ngày xét xử 24/9/2024 là 103.430.136 đồng và tiếp tục tính lãi chậm trả cho kể từ sau ngày xét xử cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

Nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận vay tiền thông qua tin nhắn trên mạng xã hội, không thỏa thuận thời hạn vay, không thỏa thuận lãi suất. Ngoài ra nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh giữa nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận ngày 02/3/2023 bị đơn sẽ trả toàn bộ số tiền gốc cho nguyên đơn. Do đó đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu tính lãi kể từ ngày Tòa án nhận đơn khởi kiện là ngày 28/6/2023 theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự là 10%/năm, tạm tính đến ngày xét xử ngày 24/9/2024 là 01 năm 02 tháng 26 ngày theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 460 Bộ Luật Dân Sự là 660.000.000 đồng x 10%/năm x 01 năm 02 tháng 26 ngày = 81.766.667 đồng.

Và buộc bị đơn phải tiếp tục chịu lãi suất chậm trả sau ngày xét xử trên số nợ gốc.

[4] Về chi phí đăng, phát thông báo trên báo, đài: Nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh T phải chịu chi phí đăng, phát thông báo trên báo, đài là 2.425.000 đồng (Đã thu và chi phí xong).

[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 33.670.667 đồng. Nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh T phải chịu án phí dân sự đối với phần yêu cầu không được chấp nhận là 1.083.173 đồng được khấu trừ trong số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 15.579.720 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2022/0003003 ngày 13/7/2023. Bà Phạm Thị Thanh T được nhận số tiền tạm ứng án phí còn lại là 14.496.547 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 220, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự

Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh T.

Buộc bà Trần Mỹ T2 có nghĩa vụ phải trả cho bà Phạm Thị Thanh T số tiền 741.766.667 đồng, trong đó: tiền nợ gốc là 660.000.000 đồng (Sáu trăm sáu mươi triệu đồng), tiền lãi là 81.766.667 đồng (T3 mươi mốt triệu bảy trăm sáu mươi sáu ngàn sáu trăm sáu mươi bảy đồng) (Tiền lãi tạm tính đến ngày xét xử 24/9/2024)

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; trường hợp không thỏa thuận được về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về chi phí đăng, phát thông báo trên báo, đài: Nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh T phải chịu chi phí thông báo trên báo, đài là 2.425.000 đồng (Đã thu và chi phí xong theo phiếu thu số 340 ngày 27/6/2024 và phiếu chi số 318 ngày 27/6/2024).

Về án phí: Bị đơn bà Trần Mỹ T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 33.670.667 đồng. Nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh T phải chịu án phí đối với phần yêu cầu không được chấp nhận là 1.083.173 đồng, được khấu trừ trong số tiền tạm ứng án phí 15.579.720 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2022/0003003 ngày 13/7/2023. Bà Phạm Thị Thanh T được nhận số tiền tạm ứng án phí còn lại là 14.496.547 đồng.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk ;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND TP.BMT;
  • - CCTHADS TP.BMT;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 273/2024/DS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 273/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger