Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ V

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 273/2023/HSST

Ngày: 23/08/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Chân Nhân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Thẩm và bà Phan Kim Hoa

Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Hoài - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Đậu Thị Hoài, kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 200/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 06 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 298/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 20/12/2001 tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố P, phường N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn:11/12; Họ và tên bố: Phạm Văn H (Đã chết); Họ và tên mẹ: Hồ Thị H1; Không rõ nơi cư trú, không rõ còn sống hay đã chết; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ, con: chưa có.

Tiền án: Ngày 28/9/2020, bản án số 472/2020/HS-ST của TAND TP Vinh xử phạt 6 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.

Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Công an thành phố P, tỉnh Kiên Giang trong một vụ án khác. (Bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người bị hại: chị Lê Thị A, sinh năm 1973; Trú tại: khối M, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • +. Anh Lê Đức N, sinh năm 2000; Trú tại: khối M, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An.Vắng mặt
  • +. Chị Hà Phương T1, sinh năm 1992; Trú tại: khối C, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 2/2021, Phạm Văn T về nhà bạn là anh Lê Đức N (sinh năm 2000, trú tại Khối M, phường Đ, TP V, tỉnh Nghệ An) để ở nhờ. Qúa trình ở tại đây, T có mượn của anh N một chiếc xe máy nhãn hiệu WAVE ANPHA màu trắng biển số 37B2-887.39 (xe thuộc sở hữu của mẹ anh N là chị Lê Thị A – sinh năm 1973) để đi lại thì được chị A và anh N đồng ý. Đến khoảng đầu tháng 4/2021, anh N đi vào tỉnh Đồng Nai làm ăn, Trưởng vẫn tiếp tục ở lại nhà chị A. Mấy ngày sau đó, T đã ra khỏi nhà chị A và mang theo chiếc xe máy nói trên. Do không thấy xe máy của mình, chị Lê Thị A đã gọi điện hỏi anh N; anh N gọi cho T thì T xin tiếp tục mượn xe để đi lại. Chị A và N đồng ý với điều kiện khi nào anh N về thì T phải trả lại xe mô tô. Ngày 14/4/2021, do thiếu tiền chi tiêu cá nhân nên T đã nảy sinh ý định cầm cắm chiếc xe máy trên. T gọi điện cho anh N nói dối là xe bị tai tạn và mượn giấy đăng ký xe (mục đích là để thuận tiện cho việc cấm cố xe) thì anh N đồng ý và nói T về nhà N để lấy đăng ký. Sau khi có đăng ký xe, T đưa chiếc xe máy biển số 37B2-887.39 đến tại số A, đường N, phường L, TP V, Nghệ An cầm cố cho chị Hà Phương T1 (sinh năm 1992, trú tại khối C, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An) lấy số tiền 7.000.000 đồng. Sau đó, Phạm Văn T gọi điện thoại cho anh N và nói xe máy bị hư hỏng nặng và sẽ bồi thường chiếc xe khác vào dịp trước Tết nguyên đán. Chị Lê Thị A không đồng ý nên nói anh N gọi điện cho T để đòi lại xe nhưng Phạm Văn T không trả và cắt liên lạc với anh N. Ngày 10/11/2022, do hết thời hạn cầm cố xe nhưng không thấy Phạm Văn T đến nên chị Hà Phương T1 đã nói nhân viên cửa hàng đưa chiếc xe máy nói trên cùng với giấy đăng ký xe đến nhà chị Lê Thị A thì chị A và anh N mới biết sự việc nên đã làm đơn trình báo đến cơ quan Công an phường Đ, TP V. (BL 80, 81-94, 110-118).

Ngày 16/11/2022, Công an phường Đ, TP V đã tạm giữ chiếc xe máy mà T chiếm đoạt của chị Lê Thị A và giấy vay tiền . (BL 30).

Ngày 20/3/2023, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và biết Cơ quan công an đang điều tra nên Phạm Văn T đã đến Công an T3 đầu thú về hành vi phạm tội của mình. (BL 110-112

Tại Cơ quan CSĐT Công an T3, bị cáo Phạm Văn T đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.

Tại bản kết luận định giá 364/KL- ĐGTS ngày 14/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản U kết luận: Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave alpha, màu trắng đen bạc, biển số 37B2-887.39 đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm giữa tháng 4/2021 là 13.500.000 đồng (mười ba triệu năm trăm nghìn đồng). (BL 34)

Cáo trạng số 194/CT-VKS-TPV ngày 30/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố để xét xử Phạm Văn T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo qui định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về vụ án, giữ nguyên toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố, đề nghị HĐXX: Áp dụng khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt Phạm Văn T từ 12 đến 15 tháng tù, tổng hợp với 06 tháng tù cho hưởng án treo của bản án số 472/2020 ngày 28/09/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh là từ 18 đến 21 tháng tù.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về lý vật chứng: 01 (Một) Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave alpha, màu trắng đen bạc, biển số 37B2-887.39. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T3 đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu là chị Lê Thị A.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về mặt dân sự. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Hà Phương T1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 7.000.000 đồng.

Về án phí: Áp dụng điều 136 BLTTHS, điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo phải chịu 200.000₫ tiền án phí HSST.

Tại phiên tòa người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Tuy nhiên quá trình điều tra người bị hại đã nhận lại tài sản, người liên quan chị Hà Phương T1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 7.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T3, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về nội dung: Tại phiên toà, bị cáo vắng mặt nhưng trong đơn xin xét xử vắng bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: Khoảng đầu tháng 4/2021, Phạm Văn T đã mượn chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave alpha, màu trắng đen bạc, biển số 37B2-887.39 của chị Lê Thị A (sinh năm 1973, trú tại Khối M, phường Đ, TP V, tỉnh Nghệ An) để đi lại. Ngày 14/4/2021, do thiếu tiền chi tiêu cá nhân, T đã cầm cố chiếc xe nói trên cho chị Hà Phương T1 lấy 7.000.000 đồng. Giá trị tài sản mà Phạm Văn T chiếm đoạt là 13.500.000 đồng. Hành vi nêu trên của Phạm Văn T là nguy hiểm cho xã hội, đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo qui định tại khoản 1, Điều 175 Bộ luật hình sự như cáo trạng VKS nhân dân thành phố V đã truy tố.

[3]. Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chiếm đoạt tài sản của người bị hại được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn thành phố V. Bị cáo có 01 tiền án, ngày 28/9/2020, bản án số 472/2020/HS-ST của TAND TP Vinh xử phạt 6 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách nên thuộc trường hợp tái phạm vì vậy cần xử phạt nghiêm và tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cả hai bản án.

Tuy nhiên, xét thấy rằng quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú cho nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự nên cũng giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi lượng hình phạt.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là lao động tự do thu nhập không ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[5]. Việc xử lý vật chứng vụ án: 01 (Một) Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave alpha, màu trắng đen bạc, biển số 37B2-887.39. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T3 đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu là chị Lê Thị A.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Lê Thị A đã được trả lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) của người có quyền lợi liên quan là chị Hà Phương T1 Hội đồng xét thấy đây là yêu cầu hợp pháp nên cần chấp nhận.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 12 tháng tù. Tổng hợp với 06 tháng tù cho hưởng án treo tại bản án số 472/2020 ngày 28/09/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh buộc bị cáo phải chấp chung cho cả hai bản án là 18 tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án nhưng được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 10/07/2020 đến ngày 16/7/2020 (06 ngày) tại bản án 472/2020 ngày 28/09/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh.

Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Hà Thị Phương T2 số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng).

  1. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 350.000 đồng án phí DSST.
  2. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được án sơ thẩm hoặc ngày bản án được niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, những người tham gia tố tụng
  • - VKSND thành phố Vinh
  • - VKSND tỉnh Nghệ An
  • - Công an thành phố Vinh
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An
  • - Chi cục THADS thành phố Vinh
  • - Sở Tư pháp Tỉnh Nghệ An
  • - Lưu HS

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Phan Chân Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 273/2023/HSST ngày 23/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V - TỈNH NGHỆ AN về hình sự - lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 273/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger