Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 273/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 22 - 11 - 2023.

V/v tranh chấp “Ly hôn”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Kim Cương.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. ông Nguyễn Chí Lin.
  2. bà Trần Thị Đổi.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Lệ Quân – là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An.

Ngày 22 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1118/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 295/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: bà Cao Thị P, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Số 340Đ/3, KP 4, thị trấn Đ', huyện Đ, tỉnh Long An (Xin vắng mặt).

Bị đơn: ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Số 340Đ/3, KP 4, thị trấn Đ', huyện Đ, tỉnh Long An (Xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ly hôn ngày 11 tháng 9 năm 2023 và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn bà Cao Thị P trình bày: bà và ông Nguyễn Văn H chung sống với nhau vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do cuộc sống không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau. ông bà đã ly thân nhau từ năm 2020 cho đến nay. ông bà đã được gia đình hai bên giải quyết nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nay, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên bà xin ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

Về con chung: Quá trình chung sống, ông bà có hai con chung là Nguyễn Thị T, sinh ngày 14/3/2006 và Nguyễn Văn H', sinh ngày 12/10/2012. Khi ly hôn, bà xin được quyền nuôi hai con, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai ngày 27/10/2023, bà P xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, theo đó, bà xin giao hai con cho ông H nuôi, bà không cấp dưỡng nuôi hai con chung.

Bị đơn ông Nguyễn Văn H trình bày tại bản tự khai ngày 26/10/2023 như sau: ông xác nhận thời gian chung sống, thời gian đăng ký kết hôn, nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là đúng. Nay bà P xin ly hôn, ông đồng ý.

Về con chung: Nguyễn Thị T, sinh ngày 14/3/2006 và Nguyễn Văn H', sinh ngày 12/10/2012. Hiện hai con đang sống chung với ông. Khi ly hôn, ông xin được quyền nuôi hai con, không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: ông bà tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: bà Cao Thị P khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn H, ông H hiện thường trú tại số 340Đ/3, KP 4, thị trấn Đ', huyện Đ, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Đ thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Cao Thị P, ông Nguyễn Văn H có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: bà Cao Thị P và ông Nguyễn Văn H chung sống với nhau vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang nên hôn nhân giữa ông bà là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét thấy, bà Cao Thị P và ông Nguyễn Văn H đều trình bày trong quá trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, gia đình hai bên đã giải quyết nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. ông bà cũng không thể tự khắc phục được những mâu thuẫn đó. Nay ông bà thống nhất tình cảm vợ chồng đã rạn nứt, không thể hàn gắn nên bà P yêu cầu ly hôn, ông H đồng ý.

Từ phân tích trên, thấy rằng hôn nhân giữa bà P và ông H đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, do đó, yêu cầu xin ly hôn của bà P đối với ông H là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung: bà Cao Thị P và ông Nguyễn Văn H thống nhất ông bà chung sống có 02 con chung tên Nguyễn Thị T, sinh ngày 14/3/2006 và Nguyễn Văn H', sinh ngày 12/10/2012. Từ khi ly thân cho đến nay, ông H là người trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu T và H'. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà P và ông H thống nhất giao hai con chung cho ông H nuôi dưỡng. Xét thấy, sự thỏa thuận về con chung giữa bà H” và ông T' là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, pháp luật. Ngoài ra, từ khi bà P và ông H xa nhau đến nay, ông H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung. ông vẫn đảm bảo sự phát triển bình thường, cuộc sống ổn định cho các con chung. Do đó, để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển ổn định cho các con chung, Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao con chung là cháu T và H' cho ông H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về tài sản chung: bà P trình bày không có tài sản chung, ông H trình bày tự thỏa thuận về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, để đảm bảo quyền, lợi ích của bà P, ông H thì về tài sản các đương sự tự thỏa thuận, nếu sau này có tranh chấp về tài sản chung thì sẽ khởi kiện một vụ án khác.

[5] Về nợ chung: bà P và ông H trình bày không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này có tranh chấp về nợ chung thì sẽ khởi kiện một vụ án khác.

[5] Về án phí: bà Cao Thị P chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị P đối với ông Nguyễn Văn H.

Về quan hệ hôn nhân: bà Cao Thị P được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

Về con chung: ông Nguyễn Văn H được quyền tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung tên Nguyễn Thị T, sinh ngày 14/3/2006 và Nguyễn Văn H', sinh ngày 12/10/2012; bà Cao Thị P không phải cấp dưỡng nuôi hai con chung vì ông H không yêu cầu.

Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Bên không nuôi con được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: bà Cao Thị P và ông Nguyễn Văn H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Nếu bà P và ông H có tranh chấp về tài sản chung thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.

Về nợ chung: bà Cao Thị P và ông Nguyễn Văn H thống nhất trình bày không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Nếu bà P và ông H có tranh chấp về nợ chung thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.

2. Về án phí: bà Cao Thị P chịu 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, sung ngân sách nhà nước, bà P được khấu trừ 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0006191ngày 17/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà để thi hành.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án để xin xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Đ;
  • - UBND xã M, huyện Cái Bé, tỉnh Tiền Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Đ;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Kim Cương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 273/2023/HNGĐ-ST ngày 22/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 273/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cao Thi P "ly hôn" Nguyen Van Hien
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger