Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 273/2024/HS-ST
Ngày: 12/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thành Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Thảo;
  2. Ông Tống Văn Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nhâm Hoàng Long - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 279/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 292/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 83/2024/HSST-QĐ ngày 28/11/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1993, tại: Quảng Ngãi; nơi thường trú: Thôn C, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; tạm trú: Nhà trọ Trần Bá T1, Quốc lộ A, tổ I, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1966 và bà Đào Thị T2, sinh năm 1973; chồng tên Đoàn Ngọc S, sinh năm 1980; tiền án, tiền sự: không; bị cáo được tại ngoại; có mặt.

Bị hại: Bà Ngô Thị Thu T3, sinh năm 2001; thường trú: Thôn C, xã K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở hiện nay: Nhà trọ Nguyễn Thị Thùy L, tổ C, khu phố A, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T và bà Ngô Thị Thu T3 có mối quan hệ là bạn với nhau.

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 21/7/2024, T điều khiển xe mô tô biển số 47K1-319.63 đi đến kiốt của bà T3 tại nhà trọ Nguyễn Thị Thùy L để chơi. Trong lúc ngồi chơi thì T nhìn thấy điện thoại di động hiệu Iphone 12pro màu trắng của bà T3 để trên bàn và thấy bà T3 đang bận bán hàng cho khách nên T nảy sinh ý định lấy trộm điện thoại. T đi đến bàn lấy điện thoại và tắt nguồn, sau đó bỏ vào trong túi quần bên phải của mình. Sau khi lấy được điện thoại, T giả vờ nói với bà T3 đi ra ngoài để đổ xăng. Khi đi ra khỏi kiốt của bà T3 được khoảng 50m, T lấy điện thoại ra cất giấu vào bụi cỏ bên đường rồi quay lại ki ốt của bà T3. Lúc này, bà T3 hỏi T “Chị có cầm điện thoại của em không”, nghe vậy T trả lời “không có”. Sau đó, T cùng với bà T3 đi tìm điện thoại trong kiốt và dùng điện thoại của T gọi vào số điện thoại của bà T3 nhưng không liên lạc được nên bà T3 và T tiếp tục ngồi nói chuyện với nhau đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày thì T đi về phòng trọ của mình. Trên đường về, T đến nơi cất giấu điện thoại để lấy rồi đem về phòng trọ của mình. Đến ngày 23/7/2024, T lấy điện thoại Iphone 12 Pro của bà T3 ra mở nguồn nhưng do T không biết mật khẩu nên không khởi động được máy, lo sợ phát hiện nên T tắt nguồn và lấy sim trong điện thoại ra rồi đem điện thoại bỏ vào túi nylon màu đỏ để trên nệm trong phòng trọ.

Đến ngày 02/8/2024, bà T3 định vị được vị trí chiếc điện Iphone 12 Pro của mình đang ở tại phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương nên T3 đến Công an phường V, thành phố T để trình báo sự việc. Công an phường V tiếp nhận tin báo đồng thời theo định vị chiếc điện thoại bà Thủy cung C đến vị trí tại Nhà T, tổ A, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương thì thấy T đang ở bên trong phòng trọ số 6 nên tiến hành yêu cầu T kiểm tra phòng trọ của mình, qua kiểm tra phát hiện điện thoại Iphone 12 Pro của bà T3 nên Công an phường V tạm giữ vật chứng và đưa T về trụ sở để làm việc. Tại Cơ quan Công an, T đã khai nhận hành vi lấy trộm điện thoại của bà T3.

Tại bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 144/KL-HĐĐGTS ngày 05/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố T kết luận 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro 128GB, màu trắng, số Imeil: 356403873163691, số I: 356403873145748 tại thời điểm bị chiếm đoạt có trị giá 9.333.000 đồng (Chín triệu ba trăm ba mươi ba nghìn đồng).

Ngày 20/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 2765/QĐ-ĐTTH trả lại cho bà Ngô Thị T4 Thủy điện thoại di động nêu trên. Bà T3 không có yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trang.

Cáo trạng số 291/CT-VKSTU ngày 04/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường, do đó đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố.

Bị cáo không trình bày lời bào chữa.

Nói lời sau cùng, bị cáo đã nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội lao động kiếm sống và cải tạo bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; lời khai của bị hại; biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc; sơ đồ hiện trường, biên bản tạm giữ đồ vật và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 21/7/2024, tại nhà trọ Nguyễn Thị Thùy L thuộc tổ C, khu phố A, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro 128GB màu trắng có trị giá 9.333.000 đồng (Chín triệu ba trăm ba mươi ba nghìn đồng) của bà Ngô Thị Thu T3. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T về tội danh và khung hình phạt như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật; gây tâm lý nghi ngờ, mất lòng tin lẫn nhau trong nhân dân; ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị trừng trị, nhưng vì động cơ tham lam, tư lợi nên bị cáo

đã cố ý thực hiện. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

[7] Mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; nhân thân; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

[8] Xét bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T có nơi cư trú rõ ràng, ổn định; có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự; được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bản thân bị cáo có khả năng tự cải tạo và không gây ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Do đó, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà căn cứ Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo cho bị cáo được hưởng án treo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian nhất định cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt không gây ảnh hưởng xấu cho xã hội mà vẫn đảm bảo công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường vấn đề gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[10] Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Đối với điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro 128GB, màu trắng, số Imeil: 356403873163691, số Imei2: 356403873145748 là tài sản của bà Ngô Thị Thu T3. Ngày 20/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 2765/QĐ-ĐTTH trả lại cho bà Ngô Thị Thu T3 là có căn cứ.

[11] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”; thời gian thử thách là 01 (Một) năm tính từ ngày tuyên án (12/12/2024).

Giao bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương đê giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.

4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - PV06, Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Tân Uyên;
  • - Công an thành phố Tân Uyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên;
  • - Bị cáo;
  • - UBND phường Thới Hòa, thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VT, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thành Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 273/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 273/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc T phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger