|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 273/2024/HS-ST |
|
|
Ngày: 12-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Thảo Nguyên
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Hòa, bà Lê Thị Kiều Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị T - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 249/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 352/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Quang Đ, sinh ngày 20 tháng 02 năm 1996 tại Quảng Ngãi
Nơi cư trú: thôn P, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: thợ may; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị C; tiền án: không; tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt giữ từ ngày 28/5/2024 theo Biên bản bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố P.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Thu T2, sinh năm 2002 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: khu phố E, phường B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Xuân N, sinh năm 1999 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: khu phố E, phường B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 27/5/2024, Nguyễn Quang Đ điều khiển xe mô tô hiệu Suzuki loại Sitria biển số 59H1-899.52 lưu thông trên đoạn đường T thuộc khu phố G, phường P, thành phố P theo hướng từ vòng xoay Siêu thị L về đường N. Khi đến gần ngã tư giao nhau giữa đường T - T, Đ phát hiện ông Trần Xuân N điều khiển xe mô tô hiệu Honda loại Dream biển số 86F4-1232 chở vợ là bà Nguyễn Thị Thu T2 ngồi phía sau và con nhỏ ngồi ở giữa đang lưu thông phía trước cùng chiều, trên tay phải bà T2 đang cầm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu hồng có gắn ốp lưng màu nâu. Thấy vậy, Đ nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của bà T2 nên chạy xe áp sát bên phải xe mô tô do ông N điều khiển, dùng tay trái giật điện thoại trên tay của bà T2 rồi nhanh chóng tăng ga tẩu thoát về hướng đường N. Lúc này, ông N chở vợ con đuổi theo Đ nhưng không kịp nên chạy xe đi về nhà. Đến khoảng 18 giờ 25 phút cùng ngày, khi ông N và bà T2 đi đến đoạn đường T thuộc khu phố G, phường P, thành phố P thì nhìn thấy Đ đang dừng xe ở phía trước trụ sở Sở Y tế tỉnh B, trên tay Đ đang cầm chiếc điện thoại vừa mới cướp giật của T2. Lúc này, ông N chạy xe đến ép xe của Đ làm Đ té ngã, đồng thời phối hợp cùng người dân khống chế, bắt giữ Đ sau đó báo Công an phường P đến đưa Đ cùng tang vật về trụ sở để làm việc. Tại cơ quan công an, Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Vật chứng của vụ án:
- Thu giữ từ Nguyễn Quang Đ:
- + 01 xe mô tô hiệu Suzuki loại Sitria màu đen, biển số 59H1-899.52;
- + 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen (bể màn hình, không kiểm tra chi tiết bên trong);
- + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu hồng, số Imei 2: 35483609096416 có gắn ốp lưng bằng nhựa màu nâu, điện thoại dán kính cường lực bị nứt.
- Thu giữ từ ông Nguyễn Tấn Đ1 (là quản lý cửa hàng điện thoại di động F tại số B T thuộc khu phố G, phường P, thành phố P): 01 USB màu bạc có lưu trữ đoạn video có thời lượng 08 giây ghi nhận vụ việc Nguyễn Quang Đ thực hiện hành vi cướp giật tài sản của bà Nguyễn Thị Thu T2 vào lúc 18 giờ 15 phút ngày 27/5/2024 tại ngã tư T - T thuộc khu phố G, phường P, thành phố P.
Tại Kết luận định giá tài sản số 118/KL-HĐĐGTS ngày 03/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P, kết luận:
- + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu hồng, số IMEI 35483609096416 trị giá 2.100.000 đồng.
- + 01 ốp lưng điện thoại di động bằng nhựa màu nâu không xác định được giá trị.
Xử lý vật chứng và dân sự:
- Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu, trả lại hiệu Iphone 8 Plus màu hồng cho bà Nguyễn Thị Thu T2. Sau khi nhận lại tài sản, bà T2 không có yêu cầu gì về dân sự.
- Đối với 01 điện thoại di động có nhãn hiệu Oppo màu đen, đây là tài sản cá nhân, không liên quan đến hành vi phạm tội của Đ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P đã trả lại cho Đ.
- Đối với xe mô tô hiệu Suzuki loại Sitria màu đen, biển số 59H1-899.52, quá trình điều tra xác định xe do ông Trần Quốc T3 (sinh năm 1981, trú tại phường A, Quận C, TP Hồ Chí Minh) đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Qua làm việc Đ khai nhận Đ mượn xe mô tô biển số 59H1-899.52 của anh trai là Nguyễn Quang K (sinh năm 1993, trú tại thôn P, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi) để đi công việc, ông K không biết việc Đ sử dụng xe vào mục đích phạm tội và không hưởng lợi gì từ hành vi phạm tội của Đ. Tuy nhiên xe mô tô này ông K mua lại của một người không rõ nhân thân, không lập giấy tờ mua bán, không có giấy tờ gì để xác định quyền sở hữu của mình. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P tiếp tục tạm giữ xe mô tô biển số 59H1-899.52 để tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
- Đối với 01 USB màu bạc, có lưu trữ đoạn video có thời lượng 08 giây ghi nhận vụ việc Nguyễn Quang Đ thực hiện hành vi cướp giật tài sản của bà Nguyễn Thị Thu T2 được lưu giữ cùng hồ sơ vụ án để phục vụ việc xét xử.
Tại Cáo trạng số 210/CT-VKSPT-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo Nguyễn Quang Đ về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Quang Đ về tội “Cướp giật tài sản” với mức án từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu, không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ xác định tội danh và buộc tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:
Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 27/5/2024, tại ngã tư đường T - T thuộc khu phố G, phường P, thành phố P, Nguyễn Quang Đ điều khiển xe mô tô hiệu Sitria biển số 59H1-899.52 áp sát vào xe mô tô biển số 86F4-1232 do anh Trần Xuân N điều khiển chở bà Nguyễn Thị Thu T2 phía sau, sau đó Đ giật chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu hồng có gắn ốp lưng màu nâu trị giá 2.100.000 đồng của bà T2 rồi nhanh chóng tẩu thoát.
Nguyễn Quang Đ đã có hành vi điều khiển xe mô tô thực hiện hành vi cướp giật tài sản của người khác. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Nguyễn Quang Đ về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật.
[3] Về nhận thức hành vi, tính chất phạm tội: Bị cáo bằng thủ đoạn nguy hiểm chiếm đoạt tài sản của bị hại, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp được pháp luật bảo vệ mà còn xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khỏe tốt, có đủ điều kiện lao động để tạo ra vật chất nhưng vì bản chất tham lam, lười lao động nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản để phục vụ cho nhu cầu cá nhân. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, do đó bị cáo phạm tội với lỗi cố ý.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Trên cơ sở cân nhắc tính chất mức độ, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản mà còn tác động xấu đến trật tự, trị an tại địa phương. Do vậy cần phải xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết về mức áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là hợp lý.
[6] Về dân sự:
Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[8] Về kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/12/2024). Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang Đ phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang Đ 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/5/2024.
Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Quang Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lê Thảo Nguyên |
Bản án số 273/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về cướp giật tài sản
- Số bản án: 273/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cướp giật tài sản
