Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 273/2024/HSST

Ngày: 02-12-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tống Thị Kim Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Kim Thành

Ông Trần Văn Thắng

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Kiên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Đức - Kiểm sát viên

Ngày 02 tháng 12 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 262/2024/TLST-HS ngày 07-11-2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 262/2024/QĐXXST-HS ngày 20-11-2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đức T, sinh ngày 11-10-1978; nơi sinh: tỉnh Nam Định; căn cước công dân số: [...]; nơi đăng ký thường trú: số nhà F đường K, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi ở hiện nay: số nhà G đường N, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức T1 (đã chết) và bà Trần Thị Á; có vợ Đoàn Thị Minh T2 (đã ly hôn), có 01 con (đã chết); tiền án: Bản án số 96/2011/HSPT ngày 20-9-2011, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phúc thẩm xử phạt 33 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Bản án số 101/2014/HSST ngày 10-4-2014, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 42 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Bản án số 78/2018/HSST ngày 06-11-2018, Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, Bản án số 352/2020/HSST ngày 08-12-2020, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tiền sự: Không; nhân thân: ngày 02-6-2003, Công an thành phố N, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành chính, hình thức cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”, ngày 09-12-2003, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 03-5-2006, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 28-5-2018, Công an thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xử phạt vi phạm hành chính, hình thức phạt tiền về hành vi “Trộm cắp tài sản”; bị tạm giữ ngày 10-8-2024, chuyển tạm giam từ ngày 19-8-2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh N; có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: ông Trần Tất T3 và ông Nguyễn Thế V (không triệu tập tham gia phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 10-8-2024, tổ công tác Công an phường C, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà A đường Đ, phường C, thành phố N phát hiện Nguyễn Đức T điều khiển xe máy biển kiểm soát 18Z9 – 1243 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, T thả từ tay trái xuống đất 01 gói giấy nhỏ màu trắng bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (T khai là H mua về để sử dụng). Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Đức T và tạm giữ của T 01 xe máy nhãn hiệu Wave, biển kiểm soát 18Z9 – 1243, màu bạc, đã cũ.

Bản kết luận giám định số 1453/KL-KTHS ngày 15-8-2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy màu trắng, được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu: 0,140 (không phảy một trăm bốn mươi) gam.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Đức T khai: Khoảng 12 giờ ngày 10-8-2024, T điều khiển xe máy biển kiểm soát 18Z9 - 1243 từ nhà đến một ngách nhỏ trong ngõ A đường Đ, phường C (không nhớ địa chỉ, số ngách), thành phố N gặp người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng. T cầm ma túy trong tay trái điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.

Bản Cáo trạng số 267/CT-VKSND-TPNĐ ngày 07-11-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Nguyễn Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Đức T khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T từ 05 năm 09 tháng đến 06 năm 03 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng đã thu giữ.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ lời khai của bị cáo Nguyễn Đức T, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, Biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, Bản kết luận giám định số 1453/KL-KTHS ngày 15-8-2024 của Phòng K Công an tỉnh N cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 10-8-2024, tại khu vực trước cửa số nhà A đường Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định, Nguyễn Đức T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,140 gam Heroine mục đích để sử dụng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Bị cáo đã nhiều lần bị kết án chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, bị cáo đã bị xác định là tái phạm nhưng bị cáo lại phạm tội mới do cố ý do đó bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm”; tội phạm và hình phạt quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là loại chất gây nghiện Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; hành vi của bị cáo là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu có 02 lần bị kết án (đã được xóa án tích), 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính (đã được xóa tiền sự), bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Nguyễn Đức T không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Số ma túy sau khi giám định hoàn lại là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.

Chiếc xe máy nhãn hiệu Wave, biển kiểm soát 18Z9 - 1243 là tài sản của ông Hoàng Thanh B (bạn T), sinh năm 1969, trú tại số E đường N, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định, ông B không biết T mượn xe đi mua ma túy sử dụng nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho ông B là đúng quy định của pháp luật.

[6] Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 06 năm (Sáu năm) tù. Thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày 10-8-2024.
  2. Biện pháp tư pháp: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 1453/KL-KTHS.

    (chi tiết vật chứng ghi trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 11-11-2024).

  3. Án phí: Bị cáo Nguyễn Đức T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Bị cáo Nguyễn Đức T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND tỉnh Nam Định ;
  • - VKSND TP. Nam Định (02 bản);
  • - Công an TP. Nam Định ;
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án + VP.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 273/2024/HSST ngày 02/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 273/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger