Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 273/2024/HS-ST

Ngày: 11-11-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Quang Bảo.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Lương Thanh Nhàn;
  2. Ông Lê Văn Đặng.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thiện Đại – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 279/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 214/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Phạm Thị Thùy D, sinh năm 1979, tại tỉnh Bình Dương; hộ khẩu thường trú tại: Khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Phạm Xuân N, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1957; bị cáo có chồng tên Đào Lê Đ, sinh năm 1981; bị cáo có 01 con sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang, tạm giữ từ ngày 14/4/2024 đến ngày 24/4/2024, bị cáo được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt.
  2. Mai Thanh P, sinh năm 1990, tại tỉnh An Giang; hộ khẩu thường trú tại: Khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang; tạm trú: Khu phố D, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; con ông Mai Quý T, sinh năm 1968 và bà Lê Thị T1, sinh năm 1970; bị cáo có vợ tên Phạm Thị Bé N1, sinh năm 1992; bị cáo có 02 con (lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2021); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang, tạm giữ từ ngày 14/4/2024 đến ngày 24/4/2024, bị cáo được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt.
  3. Phạm S, sinh năm 1996, tại tỉnh Đồng Nai; hộ khẩu thường trú tại: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; tạm trú: Khu phố H, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công dân; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; con ông Phạm Văn V (đã chết) và bà Lã Thị M, sinh năm 1962; bị cáo có vợ tên Lê Thị Hằng N2, sinh năm 2002; bị cáo có 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang, tạm giữ từ ngày 14/4/2024 đến ngày 24/4/2024, bị cáo được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt.
  4. Lâm Văn B, sinh năm 1996, tại tỉnh Trà Vinh; hộ khẩu thường trú tại: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh; chỗ ở: Khu phố E, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Lâm Văn H, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1972; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang, tạm giữ từ ngày 14/4/2024 đến ngày 24/4/2024, bị cáo được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt.
  5. Nguyễn Xuân N3, sinh năm 1988, tại tỉnh Hà Tĩnh; hộ khẩu thường trú tại: Tổ dân phố B, phường T, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh; tạm trú: Khu phố H, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Xuân L1, sinh năm 1957 và bà Võ Thị N4, sinh năm 1959; bị cáo có vợ tên Lê Thị H1, sinh năm 1991; bị cáo có 02 con (lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2015); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang, tạm giữ từ ngày 14/4/2024 đến ngày 24/4/2024, bị cáo được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt.
  6. Nguyễn Văn K, sinh năm 1979, tại tỉnh Hậu Giang; hộ khẩu thường trú: Không có nơi đăng ký thường trú; tạm trú: Khu phố D, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Đ1 (đã chết) và bà Từ Thị Chính L2 (đã chết); bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đầu thú, tạm giữ từ ngày 14/4/2024 đến ngày 24/4/2024, bị cáo được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Phạm Thị Thùy D là chủ quán cà phê Ngọc L3, cạnh đường B, thuộc khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Bị cáo Nguyễn Văn K là nhân viên của quán C.

Khoảng 13 giờ ngày 14/4/2024, bị cáo Phạm S gọi điện thoại cho bị cáo Lâm Văn B rủ B đi đến quán C uống nước, nếu có đánh bạc thì tham gia. Bị cáo B đồng ý và cùng bị cáo S đi đến quán C. Tại đây, bị cáo D rủ bị cáo S và bị cáo B đánh bạc rồi dẫn cả hai đi vào trong phòng ngủ của quán chơi đánh bạc. Thấy vậy, bị cáo Nguyễn Văn K cũng đi theo vào tham gia chơi. Bị cáo D lấy 01 bộ bài tây có sẵn trong quán ra cùng với các bị cáo S, B, K chơi bài cào liêng thắng thua bằng tiền. Sau đó, lần lượt bị cáo Mai Thanh P và bị cáo Nguyễn Xuân N3 đi đến quán cà phê Ngọc L3 uống nước thấy đánh bạc thì bị cáo P vào tham gia chơi, còn bị cáo N3 đứng xem. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo K thua hết tiền nên nghỉ đứng xem, bị cáo Nam thế chỗ của bị cáo K để cùng đánh bạc với các bị cáo D, S, B và P.

Hình thức đánh bài cào liêng (tố) của cả nhóm như sau: Bài được sử dụng là 01 bộ bài tây 52 lá. Trước khi chơi, mỗi ván tất cả người chơi phải bỏ ra một số tiền bằng nhau (tiền sàn). Quy định tiền cược cho mỗi ván là 100.000 đồng, tiền tố từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng. Mỗi người chơi sẽ được chia 3 lá bài. Sau khi mọi người đặt tiền cược, người nào có lá bài mang giá trị cao nhất hoặc còn lại sau cùng (người chơi khác úp bài) sẽ là người thắng cuộc. Mỗi ván bài chỉ tố một vòng duy nhất. Cách tính theo thứ tự từ lớn đến bé. Cách tính điểm các quân bài: Đối với các quân từ 2 đến 9 sẽ có số điểm tương ứng. Q A sẽ được tính là 1 điểm, các lá 10, J, Q, K đều được tính là 0 điểm. Khi hai người chơi bằng điểm sẽ phải tiến hành so sánh quân bài có chất cao nhất. Nếu cùng chất thì tiếp tục so sánh đến các quân theo thứ tự từ thấp đến cao là 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K, A.

Đến khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày, các bị cáo Phạm Thị Thùy D, Mai Thanh P, Phạm S, Lâm Văn B và Nguyễn Xuân N3 đang tham gia đánh bạc thì bị lực lượng Công an phường T đến kiểm tra phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật.

Vật chứng thu giữ:

  • - 02 (hai) bộ bài tây đã qua sử dụng.
  • - Tiền thu giữ trên chiếu bạc: 15.050.000 đồng, trong đó: Số tiền 700.000 đồng ở giữa sòng bạc, tại vị trí ngồi của bị cáo Lâm Văn B là 400.000 đồng, tại vị trí ngồi của bị cáo Phạm S là 1.150.000 đồng, tại vị trí ngồi của bị cáo Phạm Thị Thùy D là 3.000.000 đồng, tại vị trí ngồi của bị cáo Mai Thanh P là 3.300.000 đồng, tại vị trí ngồi của bị cáo Nguyễn Xuân N3 là 6.500.000 đồng.
  • - Thu giữ trong túi áo bên trái của bị cáo Phạm Thị Thùy D là 600.000 đồng.
  • - 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu đỏ, hiệu OPPO, tình trạng máy cũ đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số 0971.319923 của bị cáo Lâm Văn B.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A12, màu đen, tình trạng máy cũ đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số 0396.564914 của bị cáo Phạm S.

Đến khoảng 23 giờ 10 phút cùng ngày, bị cáo K đến công an phường T, thành phố B đầu thú.

Tại Cơ quan điều tra Công an thành phố B, các bị cáo Phạm Thị Thùy D, Mai Thanh P, Phạm S, Lâm Văn B, Nguyễn Xuân N3 và Nguyễn Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo D, P, S, B, N3 và Khách phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.

  • - Bị cáo Phạm Thị Thùy D khai: Bị cáo D có 3.100.000 đồng nhưng chỉ sử dụng 2.500.000 đồng để đánh bạc. Khi bị lực lượng Công an bắt, bị cáo D thắng 700.000 đồng, bị thu giữ số tiền 3.800.000 đồng (trong đó: 3.000.000 đồng thu giữ tại vị trí bị cáo Dương ngồi, 600.000 đồng thu giữ trong túi áo, 200.000 đồng thu giữ trong tiền tang).
  • - Bị cáo Mai Thanh P khai: Bị cáo P mang theo 1.500.000 đồng và sử dụng hết để đánh bạc. Khi bị lực lượng Công an bắt, bị cáo P thắng 1.900.000 đồng, bị thu giữ 3.400.000 đồng, trong đó: 100.000 đồng thu giữ trong tiền tang, 3.300.000 đồng thu giữ tại vị trí bị cáo P ngồi.
  • - Bị cáo Lâm Văn B khai: Bị cáo B mang theo 600.000 đồng và mượn của bị cáo S 3.000.000 đồng, sử dụng hết để đánh bạc. Khi bị lực lượng Công an bắt, bị cáo B thua 3.100.000 đồng, bị thu giữ 500.000 đồng, trong đó: 100.000 đồng thu ở giữa sòng bạc, 400.000 đồng thu tại vị trí ngồi của bị cáo B.
  • - Bị cáo Phạm S khai: Bị cáo S mang theo 4.450.000 đồng cho bị cáo Lâm Văn B mượn 3.000.000 đồng để đánh bạc, còn 1.450.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc. Khi bị lực lượng Công an bắt, bị cáo S thua 200.000 đồng, bị thu giữ 1.245.000 đồng, trong đó: 100.000 đồng thu ở giữa sòng bạc, 1.150.000 đồng thu tại vị trí ngồi của bị cáo S.
  • - Bị cáo Nguyễn Xuân N3 khai: Bị cáo N3 mang theo 5.300.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc. Khi bị lực lượng Công an bắt, bị cáo N3 thắng 1.400.000 đồng, bị thu giữ 6.700.000 đồng, trong đó: 200.000 đồng thu ở giữa sòng bạc, 6.500.000 đồng thu tại vị trí ngồi của bị cáo N3.
  • - Bị cáo Nguyễn Văn K khai: Bị cáo K mang theo 700.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc cùng các bị cáo D, P, B và S. Khi bị lực lượng Công an bắt, bị cáo K thua hết tiền trước đó và nhường tụ lại cho bị cáo N3 đánh bạc.

Như vậy, tổng số tiền dùng để đánh bạc của các bị cáo Lâm Văn B, Phạm S, Phạm Thị Thùy D, Mai Thanh P và Nguyễn Xuân N3 đánh bạc là 15.050.000 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc của Nguyễn Văn K cùng đồng phạm là 9.750.000 đồng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố theo như Cáo trạng số 281/CT-VKSBC ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Về hình phạt chính đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Thị Thùy D từ 35.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Mai Thanh P từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm S từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lâm Văn B từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân N3 từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

* Về biện pháp tư pháp: Căn cứ quy định tại các Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát tuyên:

  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 15.050.000 đồng dùng để sử dụng đánh bạc; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu đỏ, hiệu OPPO, tình trạng máy cũ đã qua sử dụng của bị cáo Lâm Văn B là công cụ để liên lạc đánh bạc; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A12, màu đen, tình trạng máy cũ đã qua sử dụng của bị cáo Phạm S là công cụ để liên lạc đánh bạc.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 02 bộ bài tây đã qua sử dụng; 01 sim số 0971.319923; 01 sim số 0396.564914;
  • - Tiếp tục tạm giữ số tiền 600.000 đồng của bị cáo Phạm Thị Thùy D để đảm bảo thi hành án;

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã tóm tắt và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền hạn, trách nhiệm theo quy định pháp luật.

[2] Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 13 giờ đến 15 giờ 30 phút ngày 14/4/2024, tại quán C, cạnh đường B A thuộc khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương các bị cáo Phạm Thị Thùy D, Lâm Văn B, Phạm S, Mai Thanh P, Nguyễn Văn K và Nguyễn Xuân N3 có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền với hình thức bài cào liêng (tố), với tổng số tiền để đánh bạc của các bị cáo D, B, S, P và N3 là 15.050.000 đồng, của K là 9.750.000 đồng. Hành vi trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng số 281/CT- VKSBC ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, đủ khả năng để nhận thức được đánh bạc là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến an ninh trật tự an toàn xã hội, chỉ vì ham lợi, mong muốn kiếm tiền nhanh không phải mất nhiều công sức lao động mà các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Đánh bạc là một tệ nạn đang bị xã hội lên án, là một trong những nguyên nhân kéo theo nhiều tệ nạn xã hội khác, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương xảy ra vụ án. Về nhận thức, các bị cáo hoàn toàn biết hành vi đánh bạc là trái pháp luật nhưng vì ý thức xem thường pháp luật nên các bị cáo đã cố tình thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, cần phải có một mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội của các bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo như:

  • [4.1] Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc tường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đó là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • [4.2] Bị cáo Nguyễn Văn K đầu thú; bị cáo Lâm Văn B có ông nội là người có công với cách mạng; bị cáo Nguyễn Xuân N3 có mẹ ruột tên Võ Thị N4 là người có công cách mạng. Đó là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.

[6] Về nhân thân: Trước thời điểm xảy ra hành vi phạm tội, các bị cáo có nhân thân tốt.

[7] Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, những người tham gia đánh bạc đều giữ vai trò thực hành. Bị cáo D là người khởi sướng rủ rê bị cáo S và bị cáo B đánh bạc, chuẩn bị bộ bài tây để đánh bạc. Bị cáo S gọi điện thoại rủ bị cáo B đi uống nước nếu thấy có đanh bạc sẽ tham gia đánh bạc. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào vai trò, tính chất hành vi của từng bị cáo khi quyết định hình phạt.

[8] Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, vai trò, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm về an ninh trật tự, an toàn xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử cần xử phạt các bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo nhằm răng đe giáo dục cho các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, số tiền dùng để đánh bạc không lớn nên không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội vẫn có khả năng tự cải tạo và không nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại điều 35 của Bộ luật Hình sự.

[9] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

  • [9.1] Đối với 02 bộ bài tây đã qua sử dụng của bị cáo Phạm Thị Thùy D; 01 sim số 0971.319923 của bị cáo Lâm Văn B; 01 sim số 0396.564914 của bị cáo Phạm S. Xét thấy, đây là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng để đánh bạc, là vật chứng không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy.
  • [9.2] Đối với số tiền Việt Nam 15.050.000 đồng thu trên chiếu bạc. Xét, đây là số tiền các bị cáo dùng vào việc phạm tội hay có được từ việc phạm tội nên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
  • [9.3] Đối với số tiền 600.000 đồng thu giữ trên người bị cáo Phạm Thị Thùy D. Xét, số tiền nay bị cáo D không sử dụng vào việc đánh bạc nên trả lại cho bị cáo, tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • [9.4] Đối với 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu đỏ, hiệu OPPO của bị cáo Lâm Văn B; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A12, màu đen của bị cáo Phạm S. Xét, đây là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt, căn cứ điều luật, xử lý vật chứng đối với các bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Riêng mức hình phạt đối với bị cáo Phạm Thị Thùy D và bị cáo Nguyễn Văn K là chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[11] Về án phí sơ thẩm: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 50 Bộ luật Hình sự.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố các bị cáo Phạm Thị Thùy D, Phạm S, Mai Thanh P, Lâm Văn B, Nguyễn Xuân N3 và Nguyễn Văn K phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự;
  • Xử phạt bị cáo Phạm Thị Thùy D số tiền 45.000.000 (bốn mươi lăm triệu) đồng.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Phạm S số tiền 35.000.000 (ba mươi lăm triệu) đồng.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Mai Thanh P số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Lâm Văn B số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân N3 số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.

3. Về biện pháp ngăn chặn:

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Hủy biện pháp ngăn chặn với các bị cáo Phạm Thị Thùy D, Mai Thanh P, Lâm Văn B, Phạm S, Nguyễn Xuân N3 và Nguyễn Văn K theo các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 135, 136, 137, 138, 139, 140/LCĐKNCT ngày 07/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

4. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:

Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu tiêu hủy: 02 (một) bộ bài tây đã qua sử dụng; 01 (một) sim số 0971.319923 (không kiểm tra được số Seri); 01 sim số 0396.564914 (không kiểm tra được số Seri);
  • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền 15.050.000 đồng (mười lăm triệu, không trăm năm mươi ngàn) đồng; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu đỏ, hiệu OPPO (không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A12, màu đen, tình trạng máy cũ đã qua sử dụng (bị nứt màn hình, không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được);
  • - Tiếp tục tạm giữ số tiền 600.000 (sáu trăm ngàn) đồng của bị cáo Phạm Thị Thùy D để đảm bảo thi hành án.

(Theo Lệnh thanh toán vào tài khoản người nhận Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Bến Cát 5503203000013 tại Ngân hàng N5 ngày 28/10/2024 -người nộp tiền: Nguyễn Tấn H2 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát).

5. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Phạm Thị Thùy D, Phạm S, Mai Thanh P, Lâm Văn B, Nguyễn Xuân N3 và Nguyễn Văn K, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (11/11/2024)./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Phòng PV 06 - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Công an TP. Bến Cát;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Bến Cát ;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Bến Cát ;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ, văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Văn Quang Bảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 273/2024/HS-ST ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự về tội đánh bạc

  • Số bản án: 273/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Thùy D + ĐP
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger