|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 273/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31-7-2024 Về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
|
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: |
|
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Văn Tuấn. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Phan Thanh Minh. |
| Bà Đặng Thị Huệ Tú. | |
| - Thư ký phiên tòa: | Bà Hồ Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. |
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 28/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 3607/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Huynh Van T, sinh năm 1960; quốc tịch: Ô-xtrây-li-a; địa chỉ: Ô-xtrây-li-a. Vắng mặt (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Phương U, sinh năm 1971; địa chỉ: đường X, Phường Y, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Tại đơn khởi kiện và các bản tự khai, nguyên đơn ông Huynh Van T trình bày:
Ông và bà Nguyễn Thị Phương U tự nguyện đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn vào Sổ đăng ký kết hôn số A Quyển số B ngày 11 tháng 4 năm 2013, do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10 tháng 4 năm 2013. Vợ chồng ông chung sống hạnh phúc tại Việt Nam được một thời gian thì ông về lại Ô-xtrây-li-a sinh sống và làm việc, thỉnh thoảng có sang Việt Nam thăm vợ con. Tuy nhiên, từ năm 2017 vợ chồng ông phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, ông nhiều lần mong muốn hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể có tiếng nói chung nên mục đích hôn nhân không đạt được, ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn bà Nguyễn Thị Phương U.
Về con chung: Giữa ông và bà Nguyễn Thị Phương U có 01 con chung là trẻ Huỳnh Gia H, sinh ngày 11 tháng 11 năm 2014 hiện đang sinh sống cùng bà U. Ông sống tại Ô-xtrây-li-a nhưng thường xuyên gọi điện thoại về hỏi thăm tình hình học tập, sinh sống của con chung và thỉnh thoảng về Việt Nam thăm gặp con. Ông yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bà U cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung, nợ chung: Giữa ông và bà Nguyễn Thị Phương U không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2] Tại Biên bản hòa giải ngày 16 tháng 5 năm 2024, bị đơn bà Nguyễn Thị Phương U trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà đồng ý ly hôn ông Huynh Van T.
Về con chung: Bà và ông Huynh Van T có 01 con chung là trẻ Huỳnh Gia H, sinh ngày 11 tháng 11 năm 2014 hiện đang sinh sống cùng bà, bà đồng ý giao con chung cho ông Huynh Van T trực tiếp nuôi dưỡng, do bà không có điều kiện về kinh tế nên không cấp dưỡng cho con khi giao con chung cho ông Huynh Van T nuôi dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Giữa bà và ông Huynh Van T không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3] Tại Bản trình bày nguyện vọng ngày 06 tháng 6 năm 2024, trẻ Huỳnh Gia H trình bày nguyện vọng muốn sống cùng cha là ông Huynh Van T.
[4] Tại phiên tòa:
Nguyên đơn vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Phương U trình bày: Từ năm 2014 đến nay vợ chồng bà không còn chung sống với nhau do ông Huynh Van T không về Việt Nam. Tuy nhiên, bà vẫn còn tình cảm với ông Huynh Van T nên không đồng ý ly hôn. Trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn, bà đồng ý và hoàn toàn yên tâm giao con chung là trẻ Huỳnh Gia H cho ông Huynh Van T nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng cho con do bà không có điều kiện về kinh tế.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra chứng cứ công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, căn cứ giấy chứng nhận kết hôn, giấy khai sinh cùng lời trình bày của các đương sự, có cơ sở để xác định đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Nguyên đơn trong vụ án là ông Huynh Van T hiện đang cư trú tại Ô-xtrây-li-a; bị đơn bà Nguyễn Thị Phương U cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35, Khoản 1 Điều 37, Điểm c Khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.2] Trước khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, nguyên đơn đã có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Xét thấy, yêu cầu và ý kiến của nguyên đơn đã được thể hiện rõ trong bản khai, sự vắng mặt của nguyên đơn không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử sơ thẩm quyết định xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn.
[1.3] Trong vụ án này, các đương sự đã tự giao nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc giải quyết vụ án; nguyên đơn trong vụ án là ông Huynh Van T hiện đang định cư ở nước ngoài nhưng đã có bản tự khai và đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; các đương sự cùng thừa nhận hai người không còn thực tế chung sống với nhau khoảng 10 năm nay, Tòa án không tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp, không thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp ra nước ngoài. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa.
[2] Về nội dung:
Căn cứ bản tự khai của các đương sự và Giấy chứng nhận kết hôn vào Sổ đăng ký kết hôn số A quyển số B ngày 11 tháng 4 năm 2013, do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10 tháng 4 năm 2013, có cơ sở để xác định quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn được xác lập trên cơ sở tự nguyện là hợp pháp.
Theo trình bày của nguyên đơn ông Huynh Van T và bị đơn bà Nguyễn Thị Phương U thì vợ chồng ông bà không còn chung sống với nhau trong khoảng thời gian dài, giữa hai người chỉ còn mối liên hệ là con chung. Ông Huynh Van T nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên khởi kiện yêu cầu ly hôn.
Xét thấy, ông Huynh Van T và bà Nguyễn Thị Phương U cùng thừa nhận vợ chồng không còn chung sống với nhau, ngoài việc ông Huynh Van T chu cấp tiền học cho con chung thì giữa hai người không còn mối liên hệ nào khác thể hiện tình nghĩa vợ chồng không còn. Mặc dù bà U trình bày vẫn còn tình cảm với ông Huynh Van T nhưng bà U cho rằng ông Huynh Van T không chung thủy dẫn đến việc không về Việt Nam để thăm gặp và chung sống cùng bà, điều này chứng tỏ vợ chồng không còn tin tưởng lẫn nhau, không còn khả năng hàn gắn, đoàn tụ gia đình, cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho ông Huynh Van T được ly hôn bà Nguyễn Thị Phương U.
Về con chung: Giữa ông Huynh Van T và bà Nguyễn Thị Phương U có 01 con chung là trẻ Huỳnh Gia H, sinh ngày 11 tháng 11 năm 2014. Con chung tuy đang sống cùng bà U, do bà U trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nhưng ông Huynh Van T và bà U đều thống nhất giao con chung cho ông Huynh Van T trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn, phù hợp với nguyện vọng của con chung và để đảm bảo quyền và lợi ích tốt nhất cho trẻ nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Ông Huynh Van T là người được giao quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung không yêu cầu bà U cấp dưỡng cho con là tự nguyện nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Huynh Van T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Khoản 2 Điều 21, Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35, Khoản 1 Điều 37, Khoản 2 Điều 38, Điểm c Khoản 1 Điều 40, Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ các điều 19, 56, 71, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117, 118, 121, 122 và 127 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ông Huynh Van T:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Huynh Van T được ly hôn bà Nguyễn Thị Phương U.
Giấy chứng nhận kết hôn vào Sổ đăng ký kết hôn số A Quyển số B ngày 11 tháng 4 năm 2013, do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10 tháng 4 năm 2013 không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Giao con chung là trẻ Huỳnh Gia H, sinh ngày 11 tháng 11 năm 2014 cho ông Huynh Van T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận việc ông Huynh Van T tự nguyện không yêu cầu bà Nguyễn Thị Phương U cấp dưỡng cho con.
Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và các quyền, nghĩa vụ khác của cha, mẹ đối với con chung sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Huynh Van T được ly hôn bà Nguyễn Thị Phương U.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Huynh Van T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đương sự đã nộp theo Biên lai thu tiền số N ngày 15 tháng 01 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, đương sự đã thi hành xong án phí sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị Phương U có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; nguyên đơn ông Huynh Van T cư trú ở nước ngoài không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được áp dụng theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tuấn |
Bản án số 273/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 273/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông và bà Nguyễn Thị Phương U tự nguyện đăng ký kết hôn. Vợ chồng ông chung sống hạnh phúc tại Việt Nam được một thời gian thì ông về lại Ôxtrây-li-a sinh sống và làm việc, thỉnh thoảng có sang Việt Nam thăm vợ con. Tuy nhiên, từ năm 2017 vợ chồng ông phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể có tiếng nói chung nên mục đích hôn nhân không đạt được, ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn bà Nguyễn Thị Phương U.
