TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————— |
Bản án số: 273/2024/DS-PT Ngày: 13-6-2024 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
Các Thẩm phán:Bà Lê Thị Bích Tuyền.
Bà Huỳnh Thị Hồng Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Võ Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Phạm Khánh - Kiểm sát viên.
Vào các ngày 06, 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên tòa để xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 164/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản".
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 17 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 189/2024/QĐ-PT ngày 15 tháng 5 năm 2024, giữa:
Nguyên đơn:
Bà Phan Xuân T, sinh năm 1988.
Ông Lê Tuấn K, sinh năm 1987.
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã M, huyện T, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Tuấn K: Bà Phạm Thị Xuân L, sinh năm 1963. Địa chỉ: Ấp B, xã M, huyện T, tỉnh Long An (Văn bản ủy quyền ngày 23 tháng 6 năm 2023)
Bị đơn:
Bà Lê Thị Kim S, sinh năm 1973.
Ông Nguyễn Văn K1, sinh năm 1972.
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã M, huyện T, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Công ty L1. Địa chỉ: Phòng A, tầng A, tòa nhà H, D đường N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền ngày 04 tháng 12 năm 2023).
Người đại diện theo ủy quyền của Công ty L1: Bà Trương Thái Hoàng V, sinh năm 1982; Địa chỉ: A K, phường C, quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền ngày 08 tháng 01 năm 2024).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Lê Thị Kim S: Luật sư Nguyễn Hoàng M thuộc Đoàn luật sư Thành phố H.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn K1, bà Lê Thị Kim S.
(Các đương sự có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Phan Xuân T và ông Lê Tuấn K do bà Phạm Thị Xuân L trình bày:
Vợ chồng bà T, ông K và vợ chồng bà Lê Thị Kim S, ông Nguyễn Văn K1 là hàng xóm cất nhà sinh sống đối diện nhau. Bà S và ông K1 có vay mượn tiền và tham gia hụi do bà T làm chủ hụi. Tất cả các dây hụi bà S, ông K1 tham gia đều đã hốt và hụi đã mãn. Do bà S ông K1 bị bể nợ nên vào ngày 17/12/2022 (AL) tức ngày 08/01/2023 (DL) bà Lê Thị Kim S và ông Nguyễn Văn K1 đến nhà bà T thỏa thuận tổng kết lại số nợ và xin trả dần. Do đó ông K1 có viết giấy mượn tiền và thừa nhận có mượn của bà T ông K số tiền 905.000.000, bà S xin trả trong vòng 30 ngày và cam kết khi bán đất sẽ trả đủ tiền. Cùng thời điểm đó sau khi viết giấy mượn tiền, ông K1 và bà S thỏa thuận với bà T ông K cho trả góp mỗi ngày 400.000 đồng bắt đầu từ ngày 18/12/2022 (AL), từ ngày 18/12/2023 (AL) sẽ góp mỗi ngày 500.000 đồng đến khi góp xong số tiền 905.000.000 đồng, nếu bà S, ông K1 góp trễ một ngày thì hủy thỏa thuận trả góp.
Sau khi ký thỏa thuận nêu trên thì ông K1, bà S góp được số tiền 53.200.000 đồng và ngưng không góp nữa. Do đó, nay bà Phan Xuân T và ông Lê Tuấn K khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Lê Thị Kim S và ông Nguyễn Văn K1 liên đới trả cho bà Phan Xuân T và Lê Tuấn K số tiền 905.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả tính từ 17/12/2022 (AL), tức ngày 08/01/2023 (DL) tạm tính đến ngày nộp đơn khởi kiện là 04 tháng với mức lãi suất 0.83%/tháng số tiền 30.046.000 đồng. Đồng thời yêu cầu tiếp tục tính lãi đến khi xét xử vụ án. Ngoài ra nguyên đơn không có ý kiến hay yêu cầu nào khác.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Lê Thị Kim S và ông Nguyễn Văn K1 do bà Trương Thái Hoàng V đại diện trình bày:
Bà S và bà Phan Xuân T là hàng xóm cất nhà sống đối diện nhau. Do làm ăn kinh tế không đủ vốn để làm ăn, trang trải sinh hoạt gia đình nên bà S có tham gia chơi 03 dây hụi của bà Phan Xuân T làm chủ hụi như sau:
Dây hụi thứ nhất: Hụi gom ngày 10/6/2020 (AL), hụi giá 5.000.000 đồng/tháng, mỗi tháng khui 01 lần, hụi tổng 27 phần, bà S tham gia 01 phần, trong phiêu hụi ghi tên là “C.Gái Khanh” và bà S hốt hụi vào ngày 10/8/2020 (AL) hốt được số tiền 95.110.000 đồng. Hụi mãn vào ngày 10/7/2022 (AL), bà S đã đóng hết tiền hụi dây này không còn nợ tiền hụi của bà T.
Dây hụi thứ hai: Hụi khui ngày đầu tiên 15/9/2020 (AL), gom ngày 25/10/2020 (AL), hụi giá 5.000.000 đồng/tháng, mỗi tháng khui một lần, hụi tổng 27 phần, bà S tham gia 01 phần, trong phiêu hụi ghi tên là “C.Gái Khanh” và bà S đã hốt hụi vào ngày 25/12/2020 (AL) hốt được số tiền 96.950.000 đồng. Hụi mãn vào ngày 25/01/2023 (AL), bà S đã đóng hết tiền hụi dây này không còn nợ tiền hụi của bà T.
Dây hụi thứ ba: Hụi khui đầu tiền ngày 25/02/2021 (AL), gom ngày 05/3/2021 (AL), hụi giá 5.000.000 đồng/tháng, mỗi tháng khui 01 lần, hụi tổng 28 phần, bà S tham gia 01 phần trong phiêu hụi ghi tên “C.Gái Khanh”, và bà S đã hốt hụi nhưng không nhớ ngày hốt, nhớ là đã hốt 96.950.000 đồng. Hụi mãn vào ngày 05/8/2023, bà S nợ dây hụi này chưa đóng 140.000.000 đồng, vì lý do thời điểm dịch và chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ nên gia đình bà S rơi vào tình trạng kinh tế khó khăn hơn nên gia đình bà S không có tiền đóng hụi. Ngoài ra bà S có mượn tiền của bà T 03 lần tiền với tổng số tiền 90.000.000 đồng. Vào ngày 17/12/2022 (AL) bà T và ông Lê Tuấn K kêu bà S ông K1 qua nhà để tính toán nợ nần. Bà T yêu cầu bà S ông K1 phải trả lãi theo lãi suất 6.46%/tháng từ ngày 05/3/2021 (AL) đến 17/12/2022 (AL) trên số tiền 140.000.000 đồng thành tiền gốc lãi là 554.919.768 đồng. Đối với số tiền 90.000.000 đồng thì bà T yêu cầu tính lãi suất 6%/tháng từ ngày 17/01/2021 (AL) đến ngày 17/12/2022 (AL) là 349.839.763 đồng. Tổng cộng số tiền hụi, vay và lãi là 904.759.531đồng. Vợ chồng bà T gây sức ép hù dọa sẽ khởi kiện ra Tòa và nếu không ghi giấy nợ thì không cho bán đất. Vì quá sợ hãi nên ông K1 ghi giấy nợ đồng thời bà S, ông K1 ký vào giấy nợ, cùng thời điểm vợ chồng bà S có thỏa thuận sẽ trả góp mỗi ngày 400.000 đồng bắt đầu từ ngày 18/12/2022 (AL), từ ngày 18/12/2023 (AL) sẽ trả góp mỗi ngày 500.000 đồng cho đến khi hết số nợ 905.000.000 đồng và có ghi thỏa thuận nếu bà S, ông K1 góp trễ 01 ngày thì sẽ hủy hợp đồng trả góp. Bà S có tiến hành góp tiền cho bà T được 135 ngày tính từ ngày 18/12/2022 (AL) được số tiền 54.000.000 đồng, quá trình góp thì có xảy ra cự cãi nên bà T, ông K khởi kiện đến Tòa án. Đối với yêu cầu của nguyên đơn thì bị đơn không đồng ý, bên bị đơn chỉ thừa nhận nợ nguyên đơn 230.000.000 đồng, trong đó tiền hụi là 140.000.000 đồng, tiền nợ vay là 90.000.000 đồng; bị đơn đề nghị khấu trừ số tiền đã góp là 54.000.000 đồng vào tổng số tiền còn nợ và đồng ý trả cho nguyên đơn 176.000.000 đồng, bị đơn không đồng ý trả lãi suất do khi viết giấy nợ các bên không thỏa thuận trả lãi. Ngoài ra không ý kiến hay yêu cầu gì thêm.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn đồng ý khấu trừ số tiền 53.200.000 đồng bà S, ông K1 đã góp vào số tiền gốc vay 905.000.000 đồng chỉ yêu cầu bà S ông K1 hoàn trả số tiền gốc vay là 851.800.000 đồng. Về khoản tiền lãi chỉ yêu cầu trả
lãi từ ngày bà S ông K1 không tiếp tục góp tiền đến ngày xét xử. Bị đơn chỉ đồng ý trả số tiền 176.000.000 đồng và không đồng ý trả lãi.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 17 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An đã căn cứ khoản 3 Điều 26, các Điều 35, 39, 217, 219, 147, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng các Điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Xuân T và ông Lê Tuấn K đối với bà Lê Thị Kim S và Nguyễn Văn K1 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”.
Buộc bà Lê Thị Kim S và Nguyễn Văn K1 có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Phan Xuân T và ông Lê Tuấn K tổng cộng 907.417.000 đồng bao gồm 851.800.000 đồng tiền gốc vay và tiền lãi là 55.617.000 đồng.
Về chi phí tố tụng: Buộc bà Lê Thị Kim S và ông Nguyễn Văn K1 có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Phan Xuân T và ông Lê Tuấn K số tiền 2.064.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong thì hàng tháng, bà S ông K1 còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 13/2023/QĐ-BPKCTT ngày 13/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa để đảm bảo việc thi hành án.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Kim S và ông Nguyễn Văn K1 chịu 39.222.000 đồng, khấu trừ 4.400.000 đồng số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001089 ngày 06/7/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa sang án phí, bà Lê Thị Kim S và ông Nguyễn Văn K1 còn phải nộp thêm 34.822.000 đồng án phí. Hoàn trả cho bà Phan Xuân T và ông Lê Tuấn K số tiền 20.026.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003938 ngày 24/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong giai đoạn thi hành án.
Ngày 29/01/2024, bà Lê Thị Kim S và ông Nguyễn Văn K1 kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo không rút yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải
quyết vụ án, không cung cấp, nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới và vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp sơ thẩm.
Nguyên đơn trình bày: Bị đơn có tham gia hụi và vay tiền của bà nhiều lần, ngày 08/01/2023 (DL) hai bên đã chốt nợ và có viết giấy mượn tiền số tiền 905.000.000 đồng, có thỏa thuận trả góp mỗi ngày 400.000 đồng. Sau khi ký chốt nợ thì ông K1, bà S góp được số tiền 53.200.000 đồng, số tiền nợ còn lại 851.800.000 đồng, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Bị đơn có nợ nguyên đơn số tiền hụi 140.000.000 đồng và 90.000.000 đồng tiền vay, tổng cộng 230.000.000 đồng thì phía nguyên đơn bà T, ông K đã tính tiền lãi cộng vào phần tiền vốn vay và tiền hụi thành số tiền 905.000.000 đồng để yêu cầu bị đơn bà S, ông K1 viết giấy nợ, bị đơn đã góp 53.600.000 đồng, đồng ý trả số tiền còn nợ 176.000.000 đồng, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Lê Thị Kim S Luật sư Nguyễn Hoàng M trình bày:
Trong quá trình giải quyết ở Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án không đưa các hụi viên trong các dây hụi vào tham gia tố tụng để làm rõ số tiền hụi bị đơn còn nợ và có vi phạm thủ tục tố tụng trong việc định giá tài sản để áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, vi phạm thủ tục tố tụng trong việc thay đổi những người tiến hành tố tụng, bị đơn chưa vi phạm nghĩa vụ trả nợ nhưng Tòa án thụ lý giải quyết, nên đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, hủy bản án dân sự sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bà Lê Thị Kim S và ông Nguyễn Văn K1 đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.
Kháng cáo của Công ty L1 đại diện cho ông Nguyễn Văn K1 và bà Lê Thị Kim S thực hiện đúng quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về nội dung và thời hạn kháng cáo, đủ căn cứ và hợp pháp để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, yêu cầu kháng cáo của Công ty L1 đại diện cho ông Nguyễn Văn K1 và bà Lê Thị Kim S nhận thấy:
Về tố tụng:
Ngày 23/5/2023, Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa nhận được đơn khởi kiện, ngày 24/5/2023, Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa thụ lý vụ án. Ngày 07/7/2023, Tòa án tiếp tục thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại điều 26, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; việc xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng đúng theo quy định tại điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng theo quy định từ điều 93 đến 97 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự đúng quy định tại Điều 195,196 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải đúng theo quy định tại điều 208, 209, 210, 211 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành lập hồ sơ đúng theo quy định tại điều 204 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Chủ tọa phiên tòa đã công bố thành phần Hội đồng xét xử, các đương sự không có yêu cầu thay đổi, khiếu nại thành phần Hội đồng xét xử.
Đối với biện pháp khẩn cấp tạm thời: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên Bản án sơ thẩm tuyên tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 13/2023/QĐ-BPKCTT ngày 13/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa để đảm bảo việc thi hành án. Bị đơn có đơn đề nghị hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời nhưng không chứng minh thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 138 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên không có cơ sở chấp nhận.
Về nội dung:
Theo Giấy mượn tiền thể hiện nội dung: Vào ngày 17/12/2022 (AL) tức ngày 08/01/2023 (DL) ông Nguyễn Văn K1 và bà Lê Thị Kim S có mượn của bà Phan Xuân T và ông Lê Tuấn K số tiền 905.000.000 đồng. Hạn trả 30 ngày hoặc khi bán đất được sẽ trả đủ tiền. Sau đó, cùng thời điểm ông K1 và bà S ký đơn thỏa thuận với nội dung xin trả góp mỗi ngày 400.000 đồng bắt đầu từ ngày 18/12/2022 (AL), từ ngày 18/12/2023 (AL) sẽ trả góp mỗi ngày 500.000 đồng; nếu ông S bà K1 góp trễ 01 ngày thì hủy thỏa thuận.
Bà S cho rằng khi bà ký tên vào giấy mượn tiền ngày 17/12/2022 (AL) và đơn thỏa thuận bà đang trong tình trạng tinh thần không ổn định nhưng bà không cung cấp được tài liệu do cơ quan chuyên môn kết luận nên không có cơ sở chấp nhận.
Mặc dù bà S và ông K1 không thừa nhận có nợ bà T, ông K 905.000.000 đồng nhưng bà S và ông K1 thừa nhận có ký tên vào giấy mượn tiền và đơn thỏa thuận đồng thời thừa nhận góp được 54.000.000 đồng theo đơn thỏa thuận. Như vậy, dù khoản tiền 905.000.000 đồng có phát sinh từ việc chơi hụi hay vay mượn thì ngày 17/12/2022 (AL), giữa bà T, ông K và bà S, ông K1 đã thống nhất số tiền 905.000.000 đồng và thỏa thuận góp hàng tháng là có thật và các bên đã thực hiện nên đây là thỏa thuận mới và có hiệu lực với các bên.
Xét thấy bà S ông K1 không trả cho bà T ông K theo đúng đơn thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm đại diện bị đơn trình bày đã trả góp được 54.000.000 đồng nhưng không được nguyên
đơn thừa nhận, bị đơn không cung cấp được tài liệu chứng minh nên không có cơ sở chấp nhận.
Bà T, ông K đồng ý khấu trừ số tiền 53.200.000 đồng bà S, ông K1 đã trả vào số tiền gốc vay 905.000.000 đồng, chỉ yêu cầu bà S ông K1 hoàn trả số tiền gốc vay là 851.800.000 đồng và tính lãi từ ngày 20/5/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm là có lợi cho bị đơn.
Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc bà Lê Thị Kim S và ông Nguyễn Văn K1 có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Phan Xuân T và ông Lê Tuấn K tổng cộng số tiền 907.417.000 đồng (gồm: tiền gốc 851.800.000 đồng và tiền lãi 55.617.000 đồng) là có cơ sở.
Từ những căn cứ nêu trên, kháng cáo của Công ty L1 đại diện cho ông Nguyễn Văn K1 và bà Lê Thị Kim S không có cơ sở chấp nhận.
Ngày 07/7/2023, Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa thụ lý yêu cầu phản tố của bà Lê Thị kim S và ông Nguyễn Văn K1 đề nghị bác bỏ giấy mượn tiền ngày 17/12/2022 âm lịch. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử xác định đây là ý kiến phản đối bị đơn đưa ra không phải yêu cầu phản tố nên không xem xét. Tuy nhiên, Bản án sơ thẩm không tuyên đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn là chưa giải quyết toàn diện các vấn đề Tòa án đã thụ lý.
Đề nghị: Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa cách tuyên án (tuyên đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn).
Trên đây là ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An về việc tuân theo pháp luật tố tụng và giải quyết vụ án dân sự nêu trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Lê Thị Kim S và ông Nguyễn Văn K1 thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về phạm vi xét xử phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Phan Xuân T và ông Lê Tuấn K khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị Kim S và ông Nguyễn Văn K1 trả số tiền còn nợ 851.000.000 đồng và tiền lãi.
Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn kháng cáo yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng ý trả số tiền còn nợ 176.000.000 đồng. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo, liên quan đến nội dung kháng cáo của đương sự.
[3] Xét kháng cáo của bà Lê Thị Kim S và ông Nguyễn Văn K1, thấy rằng:
[3.1] Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn trình bày không thống nhất:
Nguyên đơn cho rằng có cho bị đơn vay tiền nhiều lần và bị đơn có tham gia chơi hụi do nguyên đơn làm chủ hụi, vào ngày 08/01/2023 hai bên có chốt số tiền nợ với số tiền 905.000.000 đồng, bị đơn thỏa thuận trả góp mỗi ngày 400.000 đồng từ ngày 18/12/2022 (al), từ ngày 18/12/2023 (al) trả góp mỗi ngày 500.000 đồng. Bị đơn đã trả được số tiền 53.200.000 đồng, từ ngày 20/5/2023 không góp nữa, số tiền nợ hiện nay là 851.800.000 đồng.
Bị đơn cho rằng nợ tiền hụi 140.000.000 đồng và tiền vay 90.000.000 đồng. Do nguyên đơn tính tiền lãi nên thành số tiền 905.000.000 đồng. Bị đơn đã trả 53.600.000 đồng nên đồng ý trả cho nguyên đơn số tiền 176.000.000 đồng.
[3.2] Căn cứ giấy mượn tiền ngày 17/12/2022 (al) có nội dung: “Tôi tên Nguyễn Văn K1 và bà Lê Thị Kim S có mượn của bà Phan Xuân T ông Lê Tuấn K số tiền 905.000.000 đồng. Hạn trả 30 ngày hoặc khi bán đất được sẽ trả đủ tiền”, ông K1 và bà S có ký tên, họ tên.
Cùng thời điểm đó ông K1 và bà S ký đơn thỏa thuận với nội dung: “Ông K1 và bà S trả góp mỗi ngày 400.000 đồng bắt đầu từ ngày 18/12/2022 (AL), bắt đầu 18/12/2023 (AL) ông K1 và bà S góp 500.000 đồng mỗi ngày và góp cho đến khi hết số nợ 905.000.000 đồng, nếu ông K1 bà S góp trễ 01 ngày thì hủy hợp đồng”, ông K1 và bà S có ký tên, họ tên.
Bà S cho rằng khi bà ký tên vào giấy mượn tiền ngày 17/12/2022 (AL) và đơn thỏa thuận bà đang trong tình trạng tinh thần không ổn định nhưng bà không cung cấp được tài liệu do cơ quan chuyên môn kết luận. Ngoài ra việc ký giấy thỏa thuận do bà S, ông K1 qua nhà bà T ký và sau khi ký thỏa thuận, bà S đã góp được số tiền 53.200.000 đồng, nên việc bà S cho rằng tinh thần không ổn định là không có căn cứ.
[3.3] Trong quá trình giải quyết vụ án bà S và ông K1 không thừa nhận có nợ bà T, ông K 905.000.000 đồng nhưng bà S và ông K1 thừa nhận có ký tên vào giấy mượn tiền và đơn thỏa thuận đồng thời sau khi chốt nợ bị đơn thừa nhận góp được 53.600.000 đồng.
Như vậy dù khoản tiền 905.000.000 đồng có phát sinh từ việc chơi hụi hay vay mượn thì ngày 17/12/2022 (AL), giữa bà T ông K và bà S ông K1 đã thống nhất số tiền còn nợ 905.000.000 đồng và thỏa thuận góp hàng tháng là có thật và các bên đã thực hiện nên đây là thỏa thuận mới giữa các bên nên có hiệu lực.
Xét thấy bà S ông K1 không trả cho bà T ông K theo đúng đơn thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Quá trình giải quyết ở Tòa án cấp sơ thẩm, bị đơn cho rằng đã góp được 54.000.000 đồng, tại phiên tòa phúc thẩm đại diện bị đơn trình bày đã trả góp được 53.600.000 đồng, nhưng không cung cấp được tài liệu chứng minh, nguyên đơn thừa nhận bị đơn đã trả 53.200.000 đồng nên không có cơ sở chấp nhận lời trình bày của bị đơn. Bà T, ông K đồng ý khấu trừ số tiền 53.200.000 đồng bà S ông K1 đã trả vào số tiền gốc vay 905.000.000 đồng,
Như vậy có căn cứ bị đơn có nợ nguyên đơn số tiền 905.000.000 đồng, đã trả 53.200.000 đồng, số tiền bà S ông K1 còn nợ là 851.800.000 đồng.
[3.4] Xét lời trình bày của người đại diện cho bị đơn cho rằng bà S, ông K1 xác định xuất phát từ việc bị đơn có nợ nguyên đơn số tiền hụi 140.000.000 đồng và 90.000.000 đồng tiền vay, tổng cộng 230.000.000 đồng, nguyên đơn bà T ông K đã tính tiền lãi cộng vào phần tiền vốn vay và tiền hụi thành số tiền 905.000.000 đồng để yêu cầu bị đơn bà S, ông K1 viết giấy nợ, nhưng bị đơn không có chứng cứ gì chứng minh nên lời trình bày của bị đơn là không có cơ sở.
[3.5] Nguyên đơn thừa nhận bị đơn đã góp được 133 ngày (góp từ 18/12/2023 đến ngày 19/5/2023) với số tiền 53.200.000 đồng và yêu cầu tính lãi từ ngày ngừng trả tiền là ngày 20/5/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất 0.83%/tháng. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận tiền lãi với số tiền 55.617.000 đồng là phù hợp (số tiền lãi được tính như sau: 851.800.000 đồng x 0.83% x 7 tháng 26 ngày (từ ngày 20/5/2023 đến /ngày 17/01/2024) = 55.617.000 đồng).
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị hủy bản án dân sự sơ thẩm, lý do Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng và không đưa 30 hụi viên tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Thấy rằng, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định trong việc việc xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng; việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ; trình tự thụ lý giải quyết vụ án; tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, tiến hành lập hồ sơ xét xử vụ án và việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Chủ tọa phiên tòa đã công bố thành phần Hội đồng xét xử, các đương sự không có yêu cầu thay đổi, khiếu nại thành phần Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử tại phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án đúng theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án ở Tòa cấp sơ thẩm, bà V là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đề nghị đưa 27 người tham gia dây hụi ngày 25/02/2021(AL) vào tham gia vụ án với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên người đại diện theo ủy quyền của bị đơn không cung cấp được họ tên và nơi cư trú của 27 người tham gia dây hụi, đồng thời việc giải quyết vụ án này không làm ảnh hưởng tới quyền lợi và nghĩa vụ của 27 hụi viên đó nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận đề nghị của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là phù hợp.
Luật sư cho rằng bị đơn chưa vi phạm nghĩa vụ trả nợ nhưng Tòa án cấp sơ thẩm nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn, ảnh hưởng đến quyền lợi của bị đơn. Thấy rằng nguyên đơn thừa nhận bị đơn góp tiền đến ngày 19/5/2023, Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý vụ án ngày 24/5/2023, như vậy từ ngày 20/5/2023, bị đơn không
trả tiền là vi phạm thỏa thuận nên Tòa án thụ lý vụ án là đúng theo quy định của pháp luật.
[5] Ngày 07/7/2023, Tòa án nhân dân huyện Thụ Thừa, tỉnh Long An tiến hành thụ lý yêu cầu phản tố của bà Lê Thị Kim S và ông Nguyễn Văn K1 về việc bác bỏ giấy mượn tiền 905.000.000 đồng, đồng ý trả số tiền 176.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm xác định đây là ý kiến phản đối bị đơn đưa ra mà không phải yêu cầu phản tố nên Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xem xét ý kiến của bà S, ông K1 là có căn cứ nhưng không đình chỉ đối với yêu cầu phản tố đã thụ lý là thiếu sót, nên sửa cách tuyên án.
[6] Từ những phân tích trên, Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ và đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị Kim S, ông Nguyễn Văn K1 và đề nghị của Luật sư.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[8] Đối với biện pháp khẩn cấp tạm thời: Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 13/2023/QĐ-BPKCTT ngày 13/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa để đảm bảo việc thi hành án.
[9] Về chi phí tố tụng ở Tòa án cấp sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí số tiền 2.064.000 đồng. Nguyên đơn đã tạm nộp nên bị đơn phải có trách nhiệm hoàn trả cho nguyên đơn.
[10] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của bà T, ông K được chấp nhận nên bà S, ông K1 phải chịu án phí theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, cụ thể: 907.417.000 đồng = 36.000.000 đồng + (3% x 107.417.000 đồng) = 39.222.000 đồng.
[11] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Lê Thị Kim S và ông Nguyễn Văn K1 không được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị Kim S và ông Nguyễn Văn K1.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 17 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
Căn cứ khoản 3 Điều 26, các Điều: 35, 39, 217, 219, 147, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của
pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Xuân T và ông Lê Tuấn K đối với bà Lê Thị Kim S và Nguyễn Văn K1 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Buộc bà Lê Thị Kim S và Nguyễn Văn K1 có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Phan Xuân T và ông Lê Tuấn K tổng cộng 907.417.000 đồng bao gồm 851.800.000 đồng tiền gốc vay và tiền lãi là 55.617.000 đồng.
Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố của bị đơn về việc bác bỏ giấy mượn tiền 905.000.000 đồng, đồng ý trả số tiền 176.000.000 đồng.
Về chi phí tố tụng: Buộc bà Lê Thị Kim S và ông Nguyễn Văn K1 có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Phan Xuân T và ông Lê Tuấn K số tiền 2.064.000 đồng.
Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong thì hàng tháng, bà S ông K1 còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 13/2023/QĐ-BPKCTT ngày 13/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa để đảm bảo việc thi hành án
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Lê Thị Kim S và ông Nguyễn Văn K1 phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm 39.222.000 đồng được khấu trừ 4.400.000 đồng số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001089 ngày 06/7/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa sang án phí, bà Lê Thị Kim S và ông Nguyễn Văn K1 còn phải nộp thêm 34.822.000 đồng án phí.
Hoàn trả cho bà Phan Xuân T và ông Lê Tuấn K số tiền 20.026.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003938 ngày 24/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa.
Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Lê Thị Kim S và ông Nguyễn Văn K1 phải liên đới chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008175 ngày 07/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
9. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 273/2024/DS-PT ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 273/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
