Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 273/2024/DS-ST

Ngày: 19-8-2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng,

hợp đồng thế chấp tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Lan.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Hữu Tấn và bà Hồ Thị Kim Liên

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Tạ Kim Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 258/2024/TLST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 466/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 7 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên toà số 460/2024/QĐST-DS ngày 26 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Q (MB)

    Trụ sở chính: Số A L, phường T, quận C, Thành phố Hà Nội.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Trung T, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng Quản trị.

    Pháp nhân đại diện theo uỷ quyền: Công ty TNHH Q1 và Khai thác tài sản Ngân hàng thương mại cổ phần Q.

    Địa chỉ: Tầng H, số C L, phường L, quận B, Thành phố Hà Nội.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Hà Anh D, chức vụ: Tổng Giám đốc Công ty TNHH Q1 và Khai thác tài sản Ngân hàng thương mại cổ phần Q.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Anh T1, chức vụ: - Phó Giám đốc Công ty TNHH Q1 và Khai thác tài sản Ngân hàng thương mại cổ phần Q – chi nhánh T5. (Theo Văn bản ủy quyền số 129414/UQ-MBAMC ngày 21/12/2023 của Tổng Giám đốc Công ty TNHH Q1 và Khai thác tài sản Ngân hàng thương mại cổ phần Q).

Địa chỉ: Tầng C, tòa nhà S V, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.

Người được ủy quyền lại:

  • + Ông Nguyễn Vạn P, chức vụ: Phó Phòng thu hồi nợ Công ty TNHH Q1 tài sản Ngân hàng thương mại cổ phần Q – chi nhánh T5. (Vắng mặt)
  • + Ông Đinh Thanh T2, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ Công ty TNHH Q1 và Khai thác tài sản Ngân hàng thương mại cổ phần Q – chi nhánh T5. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • + Ông Trần Quyết T3, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ Công ty TNHH Q1 và Khai thác tài sản Ngân hàng thương mại cổ phần Q – chi nhánh T5. (Vắng mặt)
  • + Ông Phan Trường S, Chuyên viên xử lý nợ Công ty TNHH Q1 và Khai thác tài sản Ngân hàng thương mại cổ phần Q – chi nhánh T5. (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Tầng C, tòa nhà S V, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.

(Theo Văn bản uỷ quyền số 566/UQ-MBAMC-TNB ngày 01/4/2024)

- Bị đơn: Ông Trần Kim O, sinh năm 1966, (Vắng mặt)

Cư trú: Số I P, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

Địa chỉ liên hệ: Số G, đường số G, khu T, khóm M, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 27/4/2022, Ngân hàng thương mại cổ phần Q (viết tắt là Ngân hàng) và ông Trần Kim O đã ký kết Hợp đồng cho vay số 18474.22.461.18675368.TD với nội dung: Số tiền vay 1.800.000.000 đồng, thời hạn vay 84 tháng (từ ngày 06/5/2022 đến ngày 06/5/2029); mục đích vay để mua bất động sản; lãi suất 9.4%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; lãi suất chậm trả 10%/năm, hình thức thanh toán trả nợ gốc, nợ lãi định kỳ vào ngày 25 hàng tháng, kỳ thanh toán nợ gốc, nợ lãi đầu tiên vào ngày 25/5/2022.

Ngân hàng đã giải ngân cho ông O nợ vay 1.800.000.000 đồng (theo Văn bản nhận nợ ngày 06/5/2022).

Để đảm bảo khoản vay nêu trên, ông O đã thế chấp tài sản theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 20659.22.461.18675368.BĐ ngày 23/6/2022 giữa Ngân hàng với ông O được Phòng C chứng nhận, tài sản đảm bảo là Quyền sử dụng đất diện tích 60m² và tài sản gắn liền với đất là nhà ở diện tích xây dựng 45,4m², diện tích sàn 128,8m², cấp (hạng): loại 2.1, thuộc thửa đất số 98, tờ bản đồ số 69, tọa lạc phường M, thành phố L, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS14152 ngày 07/8/2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp đối với ông Đỗ Minh T4 và bà Trần Thị Nguyễn Huỳnh L; đã được Văn phòng đăng ký đất đai – Chi nhánh L1, cập nhật chuyển nhượng cho ông Trần Kim O ngày 06/6/2022 tại trang 4 của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nói trên.

Tính đến ngày 18/8/2024, ông O đã trả cho Ngân hàng được tổng số tiền 1.490.506.294 (trong đó, nợ gốc: 1.307.142.855đ, nợ lãi: 183.363.439); còn nợ tổng số tiền 562.266.413đ (trong đó, nợ gốc 492.857.140đ, nợ lãi 69.409.273đ).

Ngân hàng đã gửi nhiều thông báo, công văn yêu cầu ông O trả nợ và yêu cầu ông O bàn giao tài sản bảo đảm để xử lý theo đúng quy định nhưng phía ông O không thực hiện theo yêu cầu.

Nay Ngân hàng yêu cầu ông Trần Kim O thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng khoản nợ theo Hợp đồng cho vay đã ký kết, với số tiền tạm tính đến hết ngày 18/8/2024 là 562.266.413đ (trong đó, nợ gốc 492.857.140đ, nợ lãi 69.409.273đ) và nợ lãi phát sinh (nợ lãi, tiền phạt phát sinh theo lãi suất quá hạn) theo lãi suất thỏa thuận quy định tại Hợp đồng tín dụng số: 18474.22.461.18675368.TD ngày 27/4/2022 và Văn bản nhận nợ ngày 06/5/2022 kể từ ngày 19/8/2024 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, ông O không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm của khoản vay nêu trên để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng. Trường hợp, số tiền thu được từ việc bán (xử lý) tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết nợ cho Ngân hàng thì ông Trần Kim O vẫn phải có nghĩa vụ thanh toán hết khoản nợ cho Ngân hàng.

Bị đơn: Ông Trần Kim O không có văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; không tham dự phiên tòa do Tòa án triệu tập.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ các Điều 292, 298, 299, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Q.

Buộc ông Trần Kim O phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 18/8/2024 là 562.266.413đ, trong đó, dư nợ gốc là 492.857.140đ, dư nợ lãi là 69.409.273đ và tiếp tục thanh toán lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Trường hợp ông Trần Kim O không trả nợ hoặc trả không đủ vốn, lãi thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 20659.22.461.18675368.BĐ ngày 23/6/2022, được ký giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Q với ông Trần Kim O để thi hành án

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng thương mại cổ phần Q (gọi tắt là Ngân hàng) khởi kiện ông Trần Kim O yêu cầu trả tiền vốn vay và lãi phát sinh theo Hợp đồng cho vay số 18474.22.461.18675368.TD ngày 27/4/2022, yêu cầu duy trì hợp đồng thế chấp để đảm bảo cho việc thi hành án. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về thủ tục tố tụng: Ông Trần Kim O đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không tham gia phiên tòa, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
  3. Về nội dung vụ án: Ngân hàng thương mại cổ phần Q với ông Trần Kim O đã ký kết Hợp đồng cho vay số 18474.22.461.18675368.TD ngày 27/4/2022 với nội dung sau: số tiền vay 1.800.000.000đ, thời hạn vay 84 tháng (từ ngày 06/5/2022 đến ngày 06/5/2029); mục đích vay để mua bất động sản; lãi suất 9.4%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; lãi suất chậm trả 10%/năm, hình thức thanh toán trả nợ gốc, nợ lãi định kỳ vào ngày 25 hàng tháng, kỳ thanh toán nợ gốc, nợ lãi đầu tiên vào ngày 25/5/2022.
    1. Sau khi ký hợp đồng vay, tính đến hết ngày 18/8/2024, ông O đã trả cho Ngân hàng được tổng số tiền 1.490.506.294đ (trong đó, nợ gốc: 1.307.142.855đ, nợ lãi: 183.363.439đ). Ngân hàng yêu cầu ông O có trách nhiệm thanh toán vốn, lãi tạm tính đến hết ngày 18/8/2024 là 562.266.413đ, trong đó, nợ gốc là 492.857.140đ, nợ lãi là 69.409.273đ và tiền lãi tiếp tục phát sinh theo Hợp đồng cho vay số 18474.22.461.18675368.TD ngày 27/4/2022 đã ký giữa ông O với Ngân hàng.
    2. Hội đồng xét xử xét, Hợp đồng cho vay số 18474.22.461.18675368.TD ngày 27/4/2022 giữa Ngân hàng và ông Trần Kim O được xác lập trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật nên hợp đồng này có giá trị pháp lý. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, phía ông O đã không thực hiện nghĩa vụ trả vốn, lãi suất đúng hạn là vi phạm nghĩa vụ của bên vay. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông O có trách nhiệm thanh toán vốn, lãi tạm tính đến hết ngày 18/8/2024 là 562.266.413đ, trong đó, nợ gốc là 492.857.140đ, nợ lãi là 69.409.273đ và tiền lãi tiếp tục phát sinh theo Hợp đồng cho vay số 18474.22.461.18675368.TD ngày 27/4/2022 đã ký giữa ông O với Ngân hàng là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Ngoài ra, do ông O vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên phải có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận theo hợp đồng cho vay cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc với Ngân hàng là phù hợp quy định pháp luật.
    3. Đối với yêu cầu duy trì các hợp đồng thế chấp của Ngân hàng thì thấy: Hợp đồng cho vay trên được bảo đảm bởi Hợp đồng thế chấp bất động sản số 20659.22.461.18675368.BĐ ngày 23/6/2022 đã được Phòng C chứng nhận chứng nhận ngày 23/6/2022, đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai - chi nhánh L1 ngày 23/6/2022. Xét thấy, hợp đồng thế chấp trên phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
    4. Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Q, buộc ông Trần Kim O có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q tổng số tiền vốn, lãi tạm tính đến hết ngày 18/8/2024 là 562.266.413đ, trong đó, nợ gốc là 492.857.140đ, nợ lãi là 69.409.273đ. Đồng thời, ông O còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số 18474.22.461.18675368.TD ngày 27/4/2022 kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc cho Ngân hàng.
    5. Trường hợp ông Trần Kim O không trả nợ hoặc trả không đủ số tiền còn nợ của Hợp đồng cho vay số 18474.22.461.18675368.TD ngày 27/4/2022 thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 20659.22.461.18675368.BĐ ngày 23/6/2022, được ký giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Q với ông Trần Kim O để thu hồi nợ.
    6. Trường hợp việc xử lý tài sản thế chấp chưa thanh toán hết các khoản nợ thì ông Trần Kim O còn phải thanh toán tiếp cho đến khi trả hết nợ.
  4. Về chi phí tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên ông Trần Kim O có trách nhiệm hoàn trả lại Ngân hàng số tiền 600.000đ.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Ông Trần Kim O phải chịu 26.490.657đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
    2. Ngân hàng thương mại cổ phần Q được nhận lại 12.625.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001972 ngày 03/5/2024 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Long Xuyên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 158; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 235; Điều 266; Điều 271 ; Điều 273; Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Khoản 16 Điều 4; khoản 2 Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
  • - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • - Khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Q đối với ông Trần Kim O.

    Buộc ông Trần Kim O có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q tổng số tiền 562.266.413đ, trong đó: vốn: 492.857.140đ, lãi tạm tính đến hết ngày 18/8/2024 là 69.409.273đ.

    Kể từ ngày 19/8/2024 ông Trần Kim O còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số 18474.22.461.18675368.TD ngày 27/4/2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng cho vay, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

    Trường hợp ông Trần Kim O không trả nợ hoặc trả không đủ số tiền còn nợ của Hợp đồng cho vay số 18474.22.461.18675368.TD ngày 27/4/2022 thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 20659.22.461.18675368.BĐ ngày 23/6/2022, được ký giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Q với ông Trần Kim O để thu hồi nợ.

    Trường hợp việc xử lý tài sản thế chấp chưa thanh toán hết các khoản nợ thì ông Trần Kim O còn phải thanh toán tiếp cho đến khi trả hết nợ.

  2. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Trần Kim O có trách nhiệm trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q số tiền 600.000đ.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Ông Trần Kim O phải chịu 26.490.657đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

    Ngân hàng thương mại cổ phần Q được nhận lại 12.625.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001972 ngày 03/5/2024 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Long Xuyên.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Ngân hàng thương mại cổ phần Q và ông Trần Kim O được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TPLX;
  • - THADS TPLX;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 273/2024/DS-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản

  • Số bản án: 273/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Q kiện Trần Kim O
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger