Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 273/2024/HS-ST

Ngày 18-9-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;
  2. Ông Phan Văn Cường.

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Việt Hà, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Huyền, Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại Hội trường B, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 289/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 287/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Văn T, sinh năm 1994 tại tỉnh Nghệ An; thường trú: xóm H, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; con ông Lê Văn H, sinh năm 1966 và bà Thái Thị N, sinh năm 1965; bị cáo có 02 anh, em ruột, lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 1996; tiền sự: không; tiền án: có 01 tiền án:

Ngày 11/9/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm 03 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 251/2020/HSST, chấp hành xong hình phạt ngày 25/7/2023, đóng án phí hình sự ngày 05/5/2021 (chưa được xóa án tích).

Nhân thân:

  • + Ngày 27/7/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 35/2011/HSST (đã được xóa án tích).
  • + Ngày 29/12/2015, bị T1 án nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 87/2015/HSST (đã được xóa án tích).
  • + Ngày 03/4/2018, bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An (N là thành phố D), tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 76/2018/HS-ST (đã được xóa án tích).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/3/2024 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Anh Phan Trọng N1, sinh năm 2003; địa chỉ: Tổ A, khu phố V, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Phạm Đức Phúc A, sinh năm 2005. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn T không có nghề nghiệp, không có nơi ở cố định là đối tượng nghiện ma túy loại Heroine từ năm 2016 cho đến nay nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người dân để bán lấy tiền tiêu xài.

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 20/3/2024, T đặt xe mô tô Công nghệ G đi từ nhà trọ của người bạn tên H1 (không rõ nhân thân, lai lịch) tại khu vực thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh đến khu vực Đại học Q thuộc phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, T đi đến trước nhà trọ Q, khu phố T, phường Đ, thành phố D, T nhìn thấy 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh, đen, bạc, biển số 60F4-261.61 của anh Phan Trọng N1, sinh năm 2003; thường trú: Tổ A, khu phố V, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đang dựng trên vỉa hè, không có người trông coi. Lúc này, Lê Văn T lén lút đi đến bên cạnh chiếc xe môtô biển số 60F4-261.61rồi lấy trong túi đeo chéo ra 01 đầu đoản gắn vào 01 thanh kim loại hình chữ T đưa đầu nhọn vào trong ổ khóa xe dùng lực phá khóa xe, khi phá được ổ khoá, T nổ máy xe, quay đầu xe và dắt xe lùi xuống đường rồi lên xe để chạy tẩu thoát. Khi T leo lên xe thì anh Phan Trọng N1 cùng anh Phạm Đức Phúc A, sinh năm 2005, thường trú: Đ, thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương nghe tiếng nổ máy xe chạy ra nhìn thấy T đang ngồi trên chiếc xe môtô, biển số 60F4-261.61 anh N1 cùng anh Phúc A chạy đến bắt giữ T. Quá trình bắt giữ anh N1 có bị thương tích xước da trên vùng mặt.

Vật chứng thu giữ trong vụ án:

  • + 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh-đen-bạc, biển số 60F4-261.61
  • + 01 con dao tự chế dài khoảng 32 cm, cán bằng gỗ bọc kim loại màu vàng.
  • + 01 túi đeo chéo màu đen.
  • + 03 đầu đoản bằng kim loại dẹp, nhọn.
  • + 02 thanh kim loại hình chữ T2
  • + 01 bình xịt hơi cay loại Take Down, loại 470ml.

Căn cứ bản Kết luận định giá tài sản số 50/BBĐG-HĐĐGTS ngày 25/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng Hình sự thành phố D kết luận trị giá chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh-đen-bạc, biển số 60F4-261.6116.000.000 đồng.

Đối với thương tích trên mặt của anh N1 qua làm việc anh N1 cho biết do quá trình bắt giữ do Lê Văn T vùng vẫy nên gây ra vết thương xước da trên mặt nên không có yêu cầu giám định thương tích để xử lý.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không ý kiến hay khiếu nại gì Kết luận định giá trên của Hội đồng định giá thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Cáo trạng số 283/CT – VKS ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.

Về xử lý vật chứng:

Xe 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh-đen-bạc, biển số 60F4-261.61tên chủ sở hữu Phan Trọng N1. Vì vậy, ngày 29/3/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố D đã trả lại chiếc xe trên cho anh N1.

Đối với 01 con dao tự chế dài khoảng 32 cm, cán bằng gỗ bọc kim loại màu vàng, 01 túi đeo chéo màu đen, 03 đầu đoản bằng kim loại dẹp, nhọn, 02 thanh kim loại hình chữ T, 01 bình xịt hơi cay loại Take Down, loại 470ml không có giá trị cần tịch thu, tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Phan Trọng N1 đã nhận lại xe, không yêu cầu bồi thường gì nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng đồng thời trong lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Lời khai của bị hại trong quá trình giải quyết vụ án xác định trách nhiệm dân sự bị hại không có yêu cầu gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo, bị hại và người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang và những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 20/3/2024, tại trước nhà trọ Q, khu phố T, phường Đ, thành phố D, Lê Văn T có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Phan Trọng N1 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh-đen-bạc, biển số 60F4-261.61Trị giá tài sản chiếm đoạt là 16.000.000 đồng. Ngoài ra, năm 2020, bị cáo Lê Văn T bị Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm 03 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự tại bản án số 251/2020/HSST ngày 11/9/2020 chưa được xóa án tích.

[3] Bị cáo có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại có giá trị 16.000.000 đồng (mười sau triệu đồng); đồng thời bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm 03 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự tại bản án số 251/2020/HSST ngày 11/09/2020, bị cáo chưa được xóa án tích. Vì vậy, bị cáo phải chịu tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 283/CT-VKS ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

[4] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Về nhận thức bị cáo hoàn toàn biết hành vi trộm cắp tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vì lòng tham, muốn kiếm tiền nhanh chóng không phải lao động để phục vụ nhu cầu bản thân mà bị cáo cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[7] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu thể hiện: bị cáo đã từng bị Tòa án xét xử nhiều lần về tội Trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[8] Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng, xâm phạm đến tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, đồng thời bị cáo là người có nhân thân xấu, hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành những công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên áp dụng hình phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt, hiện đã thu hồi trả lại cho bị hại Phan Trọng N1, anh N1 không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[10] Về xử lý vật chứng: Một con dao tự chế dài khoảng 32 cm, cán bằng gỗ bọc kim loại màu vàng, 01 túi đeo chéo màu đen, 03 đầu đoản bằng kim loại dẹp, nhọn, 02 thanh kim loại hình chữ T, 01 bình xịt hơi cay loại Take Down, loại 470ml là vật chứng thu giữ của bị cáo không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

[11] Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[12] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm Tội trộm cắp tài sản.
    • - Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
    • - Xử phạt bị cáo Lê Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/3/2024.
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Tịch thu tiêu hủy:

    • + 01 con dao tự chế dài khoảng 32 cm, cán bằng gỗ bọc kim loại màu vàng.
    • + 01 túi đeo chéo màu đen.
    • + 03 đầu đoản bằng kim loại dẹp, nhọn.
    • + 02 thanh kim loại hình chữ T2
    • + 01 bình xịt hơi cay loại Take Down, loại 470ml.

    (Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 30/8/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương).

  3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Bị cáo Lê Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt bản án hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - Công an thành phố Dĩ An (03);
  • - Chi cục THA thành phố Dĩ An (01);
  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - Người tham gia tố tụng (03);
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01);
  • - THA hình sự (04);
  • - UBND xã, phường bị cáo thường trú (01);
  • - Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Dương (01);
  • - Phòng PC 81 CA tỉnh Bình Dương (01);
  • - Lưu: VT, HSVA (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thắm

 

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 273/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản (theft of property)

  • Số bản án: 273/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Theft of property)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Lê Văn Th về tội “Trộm cắp tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger