| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 273/2025/HS-ST Ngày: 24 - 11 - 2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thùy Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Tài
Bà Nguyễn Thị Huệ
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Thuý – Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Hiểu – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 278/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1075/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn T – sinh năm: 1982 tại tỉnh Vĩnh Long; nơi đăng ký thường trú: Ấp Đ, thị trấn H, huyện H, tỉnh Kiên Giang (nay là xã H, tỉnh An Giang); nơi cư trú hiện nay: Số A, Quốc lộ A, khu phố A, phường B, Quận B (nay là phường A), Thành phố H nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 bà Nguyễn Thị H; Lưu Thị M có 02 con, sinh năm 2009 và sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/01/2025 đến nay; có mặt.
2. Lê Văn L – sinh năm: 1996 tại thành phố Cần Thơ; nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, huyện T (nay là xã T), thành phố C cư trú hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn N bà Lê Thị N1, con: Chưa có
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/01/2025 đến nay; có mặt.
- Bị hại: Chị Lê Thị Kim N2 sinh năm: 1992; địa chỉ: Ấp N, xã C, huyện D (nay là phường N), tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Văn B năm: 1992; địa chỉ: 1 khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
- Ông Tống Hồ T2 sinh năm: 1983; địa chỉ: F đường H, phường B, quận B (nay là phường A), Thành phố H mặt.
- Bà Huỳnh Thị C năm: 1991; địa chỉ: D đường C, phường B, quận B (nay là phường A), Thành phố H mặt.
- Ông Nguyễn Văn Y Sa R năm: 1993; địa chỉ: P địa chỉ 1 L, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, Thành phố H mặt.
- Bà Huỳnh Thị Mộng D năm: 1977; địa chỉ: B L, phường A, Quận B (nay là phường A), Thành phố H mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 21/01/2025, Nguyễn Văn T2 khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 68D1-644.47, chở theo Lê Văn L1 tìm tài sản sơ hở để cướp giật. Khi đến trước địa chỉ số Z đường Đ (Quốc lộ A), khu phố A, phường TT và L phát hiện chị Lê Thị Kim N2 cầm trên tay 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax để nhắn tin nên T điều khiển xe mô tô chạy lên vỉa hè, áp sát chị N2 để L ngồi phía sau dùng tay phải giật lấy điện thoại. Do bất ngờ, chị N2 chỉ kịp tri hô “Cướp … cướp!!!”. T nhanh chóng tăng ga chở L2 thoát khỏi hiện trường. Sau đó, T8 L tiếp tục thực hiện hành vi cướp giật 01 điện thoại di động hiệu Samsung của một người (chưa rõ lai lịch) tại khu vực trước địa chỉ số H đường Đ (Quốc lộ A), phường B, Thành phố H khi cướp giật được 02 chiếc điện thoại, L kiểm tra và tháo sim của 02 chiếc điện thoại này ra vứt bỏ (không xác định được địa điểm), L3 chiếc điện thoại hiệu Iphone 12 Promax, T3 chiếc điện thoại hiệu Samsung rồi cùng nhau đến quán “Su Su” tại địa chỉ A đường C, phường B, quận B (nay là phường B), Thành phố H ăn nhậu. Tại đây, L4 điện thoại rủ Nguyễn Văn B1 ăn nhậu thì B2 ý; T và L5 nói cho B3 là vừa cướp giật được hai chiếc điện thoại. Đến khoảng 01 giờ 00 phút, ngày 22/02/2025 do không có tiền trả tiền ăn nhậu, T hỏi nhân viên quán “Su Su” có cầm điện thoại không thì chủ quán không đồng ý nên L6 điện thoại cho Nguyễn Văn B4 tìm khách hàng nhậu tại quán để cầm cố (Bé không hỏi nguồn gốc điện thoại này do đâu mà có). Sau đó B5 T cầm điện thoại Iphone 12 Promax đi ra trước quán gặp ông Tống Hồ T4 này B nhờ ông T2 cầm điện thoại này với số tiền 2.000.000 đồng và nói hôm sau sẽ chuộc lại (ông T2 không biết nguồn gốc của chiếc điện thoại Iphone 12 Promax do T và L7 giật mà có), sau đó B6 lại cho T5 tiền 2.000.000 đồng. Do trả tiền nhậu còn thiếu nên T6 chiếc điện thoại hiệu Samsung giật được để cầm cho chị Huỳnh Thị C1 (nhân viên quán) với giá 600.000 đồng (chị C2 biết đây là điện thoại do T và L7 giật mà có). T và L8 trả tiền nhậu cho bà Huỳnh Thị Mộng D1 2.200.000 đồng và cả nhóm ra về. Ngày hôm sau, T7 quán trả cho chị C3 và lấy lại điện thoại Samsung.
Sau khi bị cướp giật điện thoại chị N2 đến Công an phường T trình báo. Qua truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q(cũ) triệu tập Nguyễn Văn T8 Lê Văn L9 trụ sở làm việc.
* Vật chứng vụ án:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh dương, số số Imei 1: 356487144914842, số Imei 2: 356487144515581.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, đã bị khoá mật khẩu.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 68D1-644.47, số máy G3D4E1009154, số khung RLCUG1010KY238121. Kết quả xác minh do bà Vũ N3 N3 đứng tên đăng ký.
* Đồ vật, tài liệu tạm giữ:
- Số tiền Ngân hàng N42.200.000 đồng, do bà Huỳnh Thị Mộng D2 cho Cơ quan điều tra (đã được gửi vào tài khoản của Công an Q cũ).
* Tại Kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐGTS ngày 21/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A, kết luận: “01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, số Imei 1: 356487144914842, số Imei 2: 356487144515581, đã qua sử dụng, trị giá 10.750.000 đồng” (bút lục 137, 138).
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn T Lê Văn L10 nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu ở trên.
Công bố lời khai của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án khai như các bị cáo đã khai nhận. Về trách nhiệm dân sự, bị hại đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, ông Tống Hồ T9 yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền 2.000.000 đồng mà ông đã bỏ ra để cầm chiếc điện thoại Iphone 12 Promax; bà Huỳnh Thị Mộng D3 cầu các bị cáo phải trả cho bà số tiền 2.200.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 50/CT-VKS-KV7 ngày 05/11/2025 Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T10 Văn L về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Văn T Lê Văn L11 để nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 38; 17 và 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn T10 Văn L mỗi bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù đều về tội “Cướp giật tài sản”.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo phải trả cho bà Huỳnh Thị Mộng D4 tiền 2.200.000 đồng, chia phần của mỗi bị cáo phải trả là 1.100.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:
+ Tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại di động hiệu S đã bị khoá mật khẩu.
+ Tịch thu sung quỹ số tiền 2.200.000 đồng của bà Huỳnh Thị Mộng D5
Các bị cáo không tranh luận. Khi nói lời nói sau cùng, các bị cáo đã ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ xác định:
Vào khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 21/01/2025, bị cáo Nguyễn Văn T11 hành vi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 68D1-644.47 chở bị cáo Lê Văn L12 khai thực hiện hành vi cướp giật tài sản là 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax của chị Lê Thị Kim N4 trước địa chỉ Z đường Đ, khu phố A, phường T, Thành phố H nhanh chóng tẩu thoát; trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 10.750.000 đồng.
Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý nên hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn T10 Văn L đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 đã truy tố.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Mặc dù trị giá tài sản là 10.750.000 đồng nhưng hành vi điều khiển xe mô tô để cướp giật tài sản rồi nhanh chóng tẩu thoát của các bị cáo rất dễ gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của bị hại và những người tham gia giao thông khác nên các bị cáo phải chịu tình tiết định khung theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”.
[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an xã hội; gây ra tâm lý lo ngại trong nhân dân nên cần thiết phải xử phạt nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về phân hoá vai trò và hình phạt của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án có đồng phạm giản đơn, bị cáo T12 người khởi xướng, là người điều khiển xe mô tô chở bị cáo L13 phía sau để bị cáo L14 thực hiện hành vi cướp giật tài sản nên vai trò cao hơn bị cáo L11 phải chịu mức hình phạt cao hơn; bị cáo L15 đồng phạm với vai trò giúp sức, đã trực tiếp thực hiện hành vi cướp giật điện thoại của bị hại nên có vai trò thấp hơn và phải chịu mức hình phạt thấp hơn so với bị cáo T. Hành vi của các bị cáo là rất nghiêm trọng nên cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt các bị cáo một mức án thật nghiêm khắc của khung hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng chống tội phạm nói chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật Hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, xét điều kiện hoàn cảnh, tính chất phạm tội của các bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại chị Lê Thị Kim N5 nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Tống Hồ T9 yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 2.000.000 đồng mà ông đã bỏ ra cầm điện thoại di động Iphone 12 Promax của các bị cáo nên không xem xét giải quyết.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Mộng D3 cầu các bị cáo phải trả lại cho bà số tiền 2.200.000 đồng (là tiền các bị cáo đã thanh toán cho bà nhưng bà đã nộp lại cho Cơ quan điều tra). Tại phiên tòa các bị cáo đồng ý trả lại cho bà D4 tiền này nên chấp nhận, buộc các bị cáo phải trả cho bà Huỳnh Thị Mộng D4 tiền 2.200.000 đồng; cụ thể mỗi bị cáo phải trả là 1.100.000 đồng.
[9] Về vật chứng, xử lý vật chứng:
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh dương, số Imei 1: 356487144914842, số Imei 2: 356487144515581 thuộc sở hữu của bị hại Lê Thị Kim N2 nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 68D1 – 644.47, số máy G3D4E1009154, số khung RLCUG1010KY238121. Kết quả xác minh do bà Vũ N3 N3 đứng tên đăng ký. Bà N3 khai mua xe mô tô trên vào năm 2020, đến tháng 02/2023, bà N3 và ông Nguyễn Văn Y Sa R1 hôn, bà N3 giao xe mô tô trên cho ông S R quản lý và sử dụng. Ông Sa R2 (em ruột của Nguyễn Văn T13 ông cho T mượn xe để đi, ông không biết T sử dụng xe mô tô này để đi cướp giật tài sản nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành trả cho ông S R chiếc xe mô tô nói trên.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, đã bị khoá mật khẩu hiện chưa xác định được chủ sở hữu nên giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục tạm giữ để giải quyết vụ án khác theo Quyết định tách vụ án hình sự số 7249/QĐ-CSHS ngày 29/9/2025.
- Đối với số tiền 2.200.000 đồng do bà Huỳnh Thị Mộng D2 cho Cơ quan điều tra (đã được gửi vào tài khoản của Công an Q1), liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên tịch thu sung công quỹ.
[10] Về vấn đề khác:
- Đối với Nguyễn Văn B7 biết, không bàn bạc với Nguyễn Văn T8 Lê Văn L16 việc cướp giật 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax. Bé được L17 đi cầm dùm điện thoại nhưng không biết tài sản do các bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.
- Đối với Tống Hồ T2 và Huỳnh Thị C4 không biết tài sản nhận cầm cố là do các bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.
- Đối với Huỳnh Thị Mộng D6 không biết số tiền 2.200.000 đồng mà các bị cáo đã trả tiền nhậu cho D1 số tiền do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.
- Đối với hành vi cướp giật 01 điện thoại di động hiệu Samsung của một phụ nữ (chưa rõ lai lịch) tại khu vực trước địa chỉ số 80 đường Đ (Quốc lộ A), phường B, Thành phố H ngày 21/01/2025. Qua xác minh Công an phường chưa tiếp nhận nguồn tin về tội phạm với nội dung trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H tiến hành đăng báo tìm bị hại và đã ra Quyết định tách vụ án hình sự số 7249/QĐ-CSHS ngày 29/9/2025.
[11] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T10 Văn L phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 38, 17 và 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T14 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 25/01/2025.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn L18 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 25/01/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các điều 584, 585, 586, 587 và 589 Bộ luật Dân sự
Buộc các bị cáo Nguyễn Văn T10 Văn L phải trả cho bà Huỳnh Thị Mộng D4 tiền 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm ngàn đồng); cụ thể mỗi bị cáo phải trả 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm ngàn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng, người phải thi hành án còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức quy định tại Điều 357 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
+ Giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an Thành phố H tiếp tục lưu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, đã bị khoá mật khẩu.
+ Tịch thu sung quỹ số tiền Ngân hàng N42.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm ngàn đồng).
Theo quyết định chuyển vật chứng số 29/QĐ-VKS-KV7 ngày 05/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án buộc các bị cáo Lê Văn L và Nguyễn Văn T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm; tổng cộng mỗi bị cáo phải nộp 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
- Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tp. HCM(1b); - VKSND Tp. HCM(1b); -(1b); - Công an T4(Phòng P) (1b); - Công an T17(Tổ địa bàn khu vực 12) 2b; - VKSND Khu vực 7, Tp .(2b); - Bị cáo (1b); - Những người tham gia tố tụng khác (6b); - Bộ phận THA hình sự (4b); - Lưu hồ sơ, văn thư (8b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đặng Thùy Trang |
Bản án số 273/2025/HS-ST ngày 24/11/2025 của Toà án nhân dân khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh về cướp giật tài sản
- Số bản án: 273/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T và đồng phạm - Cướp giật tài sản
