Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 273/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 25-6-2025

V/v "Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đinh Kim Hoàng
  2. Bà Võ Thanh Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Châm - Thư ký Toà án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 06 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 99/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 479/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 569/2025/QĐST-HNGĐ ngày 16/6/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Trúc P, sinh năm 1993 (Vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)

Địa chỉ: 3 T, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1992 (Vắng mặt)

Địa chỉ: 2 T, Phường C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh

Hiện đang cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma túy số B tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản hòa giải, nguyên đơn bà Trần Thị Trúc P trình bày:

Bà P và ông T chung sống với nhau từ năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy chứng nhận kết hôn số 30/2020, do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14/7/2020).

Quá trình chung sống với nhau hạnh phúc một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không đồng quan điểm và suy nghĩ, không chia sẻ với nhau về tình cảm. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hòa giải được. Nguyên nhân do ông T sử dụng ma túy, hiện đang thực hiện cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma túy số 2, tỉnh Đồng Nai, nên bà P yêu cầu ly hôn với ông T để ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Trong thời gian sống chung, ông bà có 01 con chung tên Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 26/7/2020. Bà P yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cấp dưỡng cho con.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Bà P xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Nguyễn Thanh T vắng mặt vì đang cai nghiện ma túy tại Cơ sở Cai nghiện ma túy số 2, tỉnh Đồng Nai và ông yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt ông. Ông thống nhất với các lời khai của bà P về thời gian chung sống và đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống, giữa ông bà có phát sinh mâu thuẫn không thể hòa giải được. Về yêu cầu ly hôn của bà P thì ông không đồng ý vì muốn quay về hàn gắn với bà P. Ông đồng ý giao con chung cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng; ông xác định không có tài sản chung và nợ chung của vợ chồng. Ông đề nghị giải quyết vắng mặt ông tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các phiên tòa xét xử vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 phát biểu ý kiến kết luận việc thụ lý và giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đã được thực hiện theo đúng, đầy đủ theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ tài liệu chứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên bà Trần Thị Trúc P. Về quan hệ hôn nhân: Bà P được ly hôn với ông T; Về con chung: Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì bà P và ông P1 có 01 con chung tên Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 26/7/2020. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, chấp nhận yêu cầu của bà P giao con chung cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng cho con Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết do bà P không có yêu cầu; Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Các đương sự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Xét thấy việc bà Trần Thị Trúc P khởi kiện xin ly hôn là vụ án dân sự về hôn nhân và gia đình. Do ông Nguyễn Thanh T cư trú tại Quận D nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông T không có yêu cầu phản tố, đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử vụ án hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt do có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông T.

[2] Về yêu cầu của đương sự nhận thấy:

Bà Trần Thị Trúc P và ông Nguyễn Thanh T tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy chứng nhận kết hôn số 30/2020, do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14/7/2020). Do đó, hôn nhân của bà P và ông T là hợp pháp.

Bà P và ông T chung sống thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không đồng quan điểm và suy nghĩ, không chia sẻ với nhau về tình cảm. Bản thân ông T là người nghiện ma túy và hiện đang cai nghiện tại cơ sở cai nghiện ma túy số 2, tỉnh Đồng Nai. Do đó, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà P và ông T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho bà P ly hôn với ông T.

- Về con chung: Căn cứ lời khai nhận của đương sự, bản sao giấy khai sinh, có cơ sở xác định bà P và ông T có 01 con chung tên Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 26/7/2020. Bà P yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung, việc cấp dưỡng cho con Bà P không có yêu cầu. Ông T đồng ý giao con chung cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng. Căn cứ vào đề nghị của bà P cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định bà P có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng và đảm bảo cho các con chung phát triển về mọi mặt. Do đó, chấp nhận yêu cầu của bà P giao con chung cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng cho con bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Bà P xác định không có, không yêu cầu giải quyết; ông T cũng xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 bà P phải chịu án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 220; điểm b Khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 51; Điều 53; Điều 54; Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 và Điều 110 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Trúc P được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T (Giấy chứng nhận kết hôn số 30/2020, do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14/7/2020).

- Về con chung: Xác định bà P và ông T có ông bà có 01 con chung tên Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 26/7/2020. Giao con chung cho bà P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Việc cấp dưỡng cho con bà P không yêu cầu ông T thực hiện và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc thay đổi mức cấp dưỡng cho con.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Bà P và ông T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Bà Trần Thị Trúc P phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008630 ngày 06/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4. Bà P đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 4;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4;
  • - Cơ quan thực hiện việc đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP; hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 273/2025/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 273/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chap nhan yc nguyen don
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger