Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 273/2025/DS-ST

Ngày: 27/10/2025

V/v tranh chấp Quyền sử dụng đất


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, THÀNH PHỐ CẦN THƠ


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Liêng Thị Hồng Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Thanh Tùng

2. Ông Tạ Quang Đức

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Minh Khang, là Thư ký tòa án của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Cần Thơ

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thanh Tuyền, Kiểm sát viên


Trong các ngày 21, 27 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 148/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 10 năm 2024 về việc Tranh chấp Quyền sử dụng đất, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 305/2025/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: ông Lê Hoàng A, sinh năm 1955

Địa chỉ: ấp T, xã P, thành phố Cần Thơ – Có mặt.

Bị đơn: ông Lê Minh P, sinh năm 1971

Địa chỉ: ấp T, xã P, thành phố Cần Thơ – Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. ông Trần Thanh H, sinh năm 1970 – Có mặt
  2. bà Đồng Thị Thu T, sinh năm 1969 – Có mặt
  3. bà Trần Thị Đ, sinh năm 1958 – Vắng mặt
  4. bà Lê Thị Diễm T1, sinh năm 1982 – Vắng mặt
  5. ông Lê Thanh B, sinh năm 1979 – Vắng mặt
  6. bà Đặng Thị T2, sinh năm 1996 – Vắng mặt
  7. ông Lê Thanh T3, sinh năm 1985 – Vắng mặt

Cùng địa chỉ: ấp T, xã P, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- 1 -

Theo nguyên đơn – ông Lê Hoàng A trình bày: ông được cha mẹ tặng cho phần đất cặp sông C, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00280 ngày 10/01/2001, trong đó có thửa 600, tờ bản đồ số 01, diện tích 586m². Cạnh sau phần đất giáp sông là bãi bồi không có đo đạc, ông đã bồi đắp ra khoảng 05 – 06m, cạnh trước giáp thửa 599 do cha của ông sử dụng, cha ông qua đời để lại cho em của ông là Lê Hồng P1, ông P1 chuyển nhượng đất lại cho ông Lê Minh P. Phần đất của ông đã được ông cất nhà, trồng cây lâu năm đúng theo diện tích quyền sử dụng đất được cấp. Nhưng nay ông yêu cầu đo đạc để cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông P chỉ ranh qua phần đất của ông. Ông khởi kiện yêu cầu xác định ranh thửa 600 từ lộ đê bao Ô Xà No đến mé sông, công nhận phần đất tranh chấp diện tích 125,3m² thực tế ông đang sử dụng thuộc quyền sử dụng đất của ông.

Bị đơn – ông Lê Minh P trình bày: năm 2001 ông nhận chuyển nhượng phần đất thửa 599 của chú Lê Hồng P1, giáp ranh với đất của ông Lê Hoàng A là một cái mương. Năm 2004 Nhà nước làm đê bao nên bơm cát lấp mương, ông A trồng hàng cau ra giữa mương nhưng ông nghĩ ông A làm hàng rào phần đất đó ông cũng không có sử dụng. Năm 2007, ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1449, tờ bản đồ số 01, diện tích 1.872m² (tách từ thửa 599). Sau đó ông cho ông Trần Thanh H cất nhà ở nhờ. Nay ông A cho rằng ranh đất tới lộ đê bao thì ông không đồng ý, ông đề nghị đo đạc đủ diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông A.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Trần Thị Đ, bà Lê Thị Diễm T1, ông Lê Thanh B, bà Đặng Thị T2, ông Lê Thanh T3 trình bày: thống nhất ý kiến của ông A.

- Bà Đồng Thị Thu T trình bày: thống nhất ý kiến của chồng bà là ông P.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: quá trình chuẩn bị xét xử Thẩm phán thực hiện đúng các quy định pháp luật về tố tụng. Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ quy định về quyền và nghĩa vụ. Về nội dung vụ án, quá trình nguyên đơn, bị đơn sử dụng đất có đê bao cắt ngang hai phần đất, qua đo đạc thực tế đất của nguyên đơn giảm diện tích 202,5m², còn đất của bị đơn dư 464,8m², các hộ giáp ranh xung quanh không có tranh chấp. Vì vậy, cần công nhận phần đất tranh chấp cho nguyên đơn, tách phần vật kiến trúc trên đất của ông H thành vụ án khác khi có yêu cầu khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- 2 -

[1] Theo đơn khởi kiện ngày 01/8/2023, ngày 04/6/2024 ông Lê Hoàng A yêu cầu công nhận phần đất từ hàng cau đến giáp lộ nông thôn qua đo đạc diện tích 125,3m² thuộc quyền sử dụng đất của ông. Tòa án nhân dân huyện Phong Điền đã thụ lý vụ án tranh chấp Ranh giới giữa các bất động sản liền kề để giải quyết theo thẩm quyền, tuy nhiên phần đất tranh chấp cả nguyên đơn, bị đơn đều cho rằng thuộc quyền sử dụng của mình, còn hiện trạng đất các bên đang sử dụng cách nhau bởi Đê KH9 nên Hội đồng xét xử điều chỉnh lại quan hệ pháp luật là tranh chấp quyền sử dụng đất.

[2] Ông A xác định phần đất thửa 600 có nguồn gốc của cha là ông Lê Văn N tặng cho ông từ năm 1975, ông đã nhận đất sử dụng từ năm 1976, giáp ranh với thửa 599 vẫn do cha mẹ ông sử dụng. Phần đất thửa 599 do bà Dương Thị H1 nhận thừa kế từ ông N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau khi ông N, bà H1 chết, em của ông A là ông Lê Hồng P1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Lê Minh P năm 2001. Theo ông P trình bày năm 2002 vợ chồng ông về ở tại phần đất nhận chuyển nhượng theo ranh đất cho ông P1 xác định là con mương giáp với thửa 600 của ông A. Năm 2007 ông P và vợ là bà Đồng Thị Thu T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tách từ thửa 599 thành thửa 1449. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có tiến hành đo đạc nên giữa hai bên ông A, ông P không có biên bản ranh giới, mốc giới thửa đất. Đồng thời hiện tại cơ quan quản lý đất đai cũng không lưu hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông P, bà T. Do đó, ranh giới hai thửa đất 1449, 600 do hai bên thực tế sử dụng và nêu ra mà không có tài liệu chứng minh.

[3] Năm 2004 sau khi Đê KH9 được xây dựng thì hiện trạng hai phần đất thửa 1449, 600 thay đổi, không còn giáp nhau như sơ đồ thửa đất trên các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông A, ông P. Ông P cho rằng mương ranh đã bị san lấp khi làm nhà nước làm Đê bao, ông A trồng hàng cau làm ranh ở giữa mương, phần còn lại thuộc quyền sử dụng đất của ông P nhưng cách đê bao nên gia đình ông cũng không sử dụng, sau đó ông cho ông Trần Hoàng H2 cất nhà ở nhờ. Phía ông A cũng cho rằng ông là người cho ông H2 ở nhờ. Ông H2 trình bày ông hỏi cất nhà trên đất của cả hai bên ông A và ông P, không xác định phần đất này của người nào. Đồng thời ông A, ông P đều cho rằng được bồi thường khi nhà nước làm Đê KH9 nhưng ông A thừa nhận ông không nhận tiền mà để cho cha mẹ của ông hưởng, còn ông P thì không còn lưu giữ giấy tờ liên quan nhận bồi thường.

- 3 -

[4] Tuy nhiên, phần đất tranh chấp ngoài căn nhà của ông H2 thì phần còn lại đều do ông A sử dụng, trong đó có lối đi vào nhà ông. Phần đất thửa 600 từ khi ông A kê khai năm 1995 có diện tích 586m², và theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay của ông A thì chỉ còn thửa 600 diện tích 586m². Qua đo đạc thực tế thì số đo hiện trạng sử dụng của các thửa đất như sau: Thửa 600 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do hộ ông A đứng tên có diện tích 586m² nhưng diện tích ông A đang sử dụng chưa tính phần tranh chấp là 383,5m2, diện tích thực tế sử dụng bị thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 202,5m². Thửa 1449 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông P, bà T đứng tên có diện tích 1.872m² nhưng diện tích ông P đang sử dụng là 2.336,8m2, diện tích thực tế sử dụng dư 464,8m², nếu cộng diện tích tranh chấp là 125,3m² thì đất của nguyên đơn vẫn bị thiếu, còn đất của bị đơn nhiều hơn so với quyền sử dụng đất được cấp. Vì vậy, việc ổn định phần đất tranh chấp cho nguyên đơn tiếp tục sử dụng là phù hợp với quyền sử dụng đất đã cấp của các bên. Đối với quan hệ ở nhờ giữa ông H2 với ông A, ông P không có yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trường hợp các bên không tự thỏa thuận được, phát sinh tranh chấp thì khởi kiện thành vụ án khác.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn chịu án phí không có giá ngạch và chi phí đo đạc, định giá theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 688, Điều 689 Bộ luật dân sự năm 2005; khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 203 Luật đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ổn định cho ông Lê Hoàng A quyền sử dụng đất diện tích 125,3m² (CLN), thửa 600, tờ bản đồ số 01, tại vị trí A. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000280 ngày 10/01/2001 cấp cho hộ ông Lê Hoàng A. Đất tọa lạc tại ấp T, xã P, thành phố Cần Thơ. (Kèm theo Bản trích đo địa chính số 39/VPĐKĐĐ ngày 14/01/2025 của Văn phòng đăng ký đất đai Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C).

Chi phí đo đạc, định giá: bị đơn nộp 5.000.000 đồng; ông A đã đóng tạm ứng 5.000.000 đồng nên ông P phải trả lại ông A 5.000.000 đồng.

Án phí dân sự sơ thẩm: bị đơn nộp 300.000 đồng.

- 4 -

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).


Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND Tp. Cần Thơ;
  • - VKSND Khu vực 3 – Cần Thơ;
  • - THADS Khu vực 3 – Cần Thơ;
  • - Lưu (HS - 2b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Liêng Thị Hồng Hoa

- 5 -

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 273/2025/DS-ST ngày 27/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 273/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp Quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/10/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Hoàng A - Lê Minh P
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger