TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 273/2025/DS-PT Ngày: 26 - 5 - 2025 |
|
V/v tranh chấp về dân sự đòi lại tài sản | |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sỹ Danh Đạt.
- - Các Thẩm phán:
- Ông Ngô Tấn Lợi;
- Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trang – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 07/5/2025 và 26/5/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 638/2024/TLPT- DS ngày 06 tháng 12 năm 2024 về Tranh chấp về dân sự đòi lại tài sản;
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 177/2024/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 231/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Nguyễn Thị Việt H, sinh năm 1955;
- Địa chỉ: Số E, ấp V, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích của bà H là: Luật sư Đinh Thúy D – Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ. Địa chỉ: Số B, đường N, Khóm E, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
- - Bị đơn:
- Nguyễn Thị Mỹ N, sinh năm 1962;
- Trần Minh Đ (Thắng V), sinh năm 1957;
- Cùng địa chỉ: Số A, đường P, Phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà N và ông Đ là: Anh Dương Minh T, sinh năm 1988. Địa chỉ: Số G, đường C, Tổ F, Ấp A, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích của bà N và ông V là: Luật sư Huỳnh Thị Quỳnh H1 – Văn phòng L2, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ. Địa chỉ: Số B, đường T, phường H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- · Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Việt H là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Việt H trình bày:
Ngày 16/12/1992, bà có cho bà Nguyễn Thị Mỹ N (Em ruột bà H) mượn 01 lượng vàng 24k (vàng 9999), 01 đôi bông hột xoàn mỗi chiếc 5 ly, 01 chiếc nhẫn hột xoàn 5 ly, số tiền mặt 2.300.000 đồng, 03 thùng thuốc trừ sâu. Khi mượn, bà N tự viết và ký tên vào “Giấy nợ” ngày 16/12/1992, có sự chứng kiến của cha bà là ông Nguyễn Văn T1 cùng ký tên, có xác nhận của UBND xã V.
Theo nội dung Giấy nợ thể hiện: 01 cây vàng, cụ thể là 10 chỉ vàng 24k (Loại vàng nhẫn 9999); 01 đôi bông hột xoàn, cụ thể vỏ màu trắng, không biết vàng gì, hột xoàn 05 ly, nước D, ngày xưa gọi là hột xoàn xiêm; 01 chiếc nhẫn hột xoàn, cụ thể nhẫn màu trắng, không biết vàng gì, hột xoàn 05 ly, nước D, ngày xưa gọi là hột xoàn xiêm; 03 thùng thuốc sâu hiệu gì không biết, giá thời điểm năm 1992 là 6.000 đồng/chai, mỗi thùng 6 chai, thời điểm hiện nay là 1.080.000 đồng; số tiền mặt là 2.300.000 đồng. Bà N có hứa khi nào cha cho bán đất nhà máy sẽ trả cho bà. Sau đó, bà N bán đất nhiều lần nhưng không trả lại cho bà số tài sản trên.
Đối với việc bà N cho rằng đã trả cho bà số nợ trên theo Biên nhận ngày 26/12/1993 là không có. Chữ ký trong Biên nhận này không phải là chữ ký của bà và ông L mà là do do con gái ông V và bà N tên Trần Thị Mỹ T2 ký mạo chữ ký của vợ chồng bà nên bà yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định chữ ký của bà và chữ ký của ông L.
Vì vậy, bà yêu cầu bà N và ông Đ liên đới trả cho bà 01 lượng vàng 24k (V), một đôi bông hột xoàn mỗi chiếc 5 ly và 01 chiếc nhẫn hột xoàn 5 ly trị giá 4,5 lượng vàng 24k (Vàng 9999), số tiền mặt 2.300.000 đồng, 03 thùng thuốc trừ sâu trị giá thời điểm hiện nay là 1.080.000 đồng.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ N và ông Trần Minh Đ trình bày:
Bà N thừa nhận có nợ tài sản của bà H theo biên nhận ngày 16/12/1992. Đến ngày 26/12/1993, bà N đã trả các tài sản trên cho bà H. Bà H và ông L (Chồng bà H) có ký tên nhận tài sản tại biên nhận ngày 26/12/1993. Do bà N nghĩ là chị em ruột nên bà N không lấy lại biên nhận ngày 26/12/1993. Vì vậy, bà N và ông Đ không đồng ý trả lại các tài sản theo yêu cầu của bà H.
Việc bà H cho rằng chữ ký của bà H và ông L tại biên nhận ngày 26/12/1993 là do con gái bà N tên Trần Thị Mỹ T2 ký mạo chữ ký là không đúng, vì thời điểm năm 1993 chị T2 chỉ mới 07 tuổi thì không thể mạo chữ ký của ông L và bà H được. Do đó, lời trình bày của bà H là không có căn cứ nên không đồng ý yêu cầu của bà H.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 177/2024/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh đã xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Việt H.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng khác, quyền và thời hạn kháng cáo, quyền, nghĩa vụ và thời hiệu thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08/10/2024 bà H làm đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm, chấp nhận đơn khởi kiện của bà H. Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ N và ông Trần Minh Đ có trách nhiệm liên đới trả cho bà H số nợ đã mượn gồm: 01 lượng vàng 24k (Vàng 9999); 01 đôi bông hột xoàn mỗi chiếc 05 ly; 01 chiếc nhẫn hột xoàn 05 ly; số tiền 2.300.000 đồng; 03 thùng thuốc trừ sâu trị giá 1.080.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của mình. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Vị Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà H phát biểu ý kiến và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà H, sửa Bản án sơ thẩm.
- Vị Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà N và ông Đ phát biểu ý kiến và đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà H, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
- Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn phúc thẩm:
- + Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự có mặt tại phiên tòa đều chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Việt H, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Căn cứ vào đơn gởi Giám đốc sở văn hóa thông tin tỉnh Đ; Tổ chức sở văn hóa tỉnh Đ ngày 12/10/2000 của bà H trong đó có nội dung: “………Vào năm 1992 vợ chồng Thắng V có mượn tôi một số đồ gồm vàng 24k bông xoàn nhẫn xoàn + vật tư + tiền mặc có làm biên nhận, có mặc ông già ruột ký tên UB xã Vĩnh Thạnh phó chủ tịch ký nhận đóng dấu. Vợ chồng Thắng V hứa trả mà Thắng V nói chuyện trên trời dưới đất, tức nước thì vỡ bờ, tôi mới lấy chiếc xe HĐ cúp 50 – 81 kim vàng bà ngày sau Thắng V qua với một chú ở Sở V, trả tôi được 2 cây vàng 24 (Hai cây) thị trường. Tôi trả xe lại cho V. Còn lại trên biên nhận nợ hứa bán nhà Sa đéc trả cũng không trả, hứa bán đất nhà máy trả bán hết rồi cũng không trả, ... Vậy nay tôi nhờ Ban Giám đốc và Tổ chức Sở VH Tỉnh ĐT khuyên nhủ hai vợ chồng Thắng V mở rộng lòng người phải trả hết phần còn lại trên biên nhận nợ từ mười năm qua...”. Từ nội dung trên cho thấy vào thời điểm làm đơn ngày 12/10/2000, thì vợ chồng bà N đã trả cho bà H 02 cây vàng 24k của Biên nhận nợ ngày 16/12/1992, chứ không phải trả cho khoản nợ một chiếc xe Honda SS và cái đầu bò (máy xe Honda) như bà H trình bày. Ngoài ra, bà H cũng không có chứng cứ chứng minh vợ chồng bà N có nợ bà chiếc xe Honda SS và cái đầu bò (máy xe Honda).
Đến ngày 13/6/2007 bà H làm giấy “Giấy xác nhận” với nội dung: “Nay tôi xin xác nhận giữa tôi và em tôi là Nguyễn Thị Mỹ N không còn nợ nhau và em tôi là Nguyễn Thị Mỹ N chuyển fần đất của tía tôi cho anh (H) Lưu Văn Đ1 ở tạm đến nay, để tôi được quyền thừa hưởng sử dụng”. Đến ngày 15/9/2007 ông L (Chồng bà H) tiếp tục làm “Giấy xác nhận và chuyển nhượng đất” trong đó có nội dung: “Vào năm 1992 em tôi là Nguyễn Thị Mỹ N có nợ tôi số tiền và hiện vật (có giấy nợ kèm theo). Đến ngày 26/2/1993 em tôi đã trả đủ số nợ nói trên (có biên nhận kèm theo). Đến hôm nay tôi và em tôi không còn nợ gì nhau nữa”.
Từ những căn cứ nêu trên, đã có đủ cơ sở để xác định bà N đã trả hết các khoản nợ cho bà H của “Giấy nợ” ngày 16/12/1992.
Đối với bà H cho rằng việc bà làm các đơn ngày 12/10/2000, “Đơn xóa nợ” ngày 12/6/2007, “Giấy xác nhận” ngày 13/6/2007, “Giấy xác nhận nợ và chuyển nhượng đất” ngày 15/9/2007, các “Tờ tường trình” ngày 15/10/2007 là do bà N và ông Đ lừa gạt bà hứa chuyển nhượng phần đất nhà máy mà cha bà cho bà N nhưng sau khi bà làm các giấy tờ nêu trên cho bà N thì bà N không chuyển nhượng đất cho bà, nhưng bà không có chứng cứ chưng minh.
Xét việc bà H không thừa nhận chữ ký của bà và ông L trong Biên nhận ngày 26/12/1993 và căn cứ vào kết luật giám định số 48/2023/TTTVGĐDS ngày 10/01/2024 của Trung tâm tư vấn, giám định dân sự thuộc Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam kết luận chữ ký của ông Võ Văn L và chữ ký của bà Nguyễn Thị Việt H trong biên nhận ngày 26/12/1993 so với chữ ký mẫu so sánh do không cùng một người ký ra để cho rằng bà N và ông Đ chưa trả nợ cho bà là không phù hợp như đã nhận định ở trên và không phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Mặt khác, Kết luật giám định số 48/2023/TTTVGĐDS ngày 10/01/2024, của Trung tâm tư vấn, giám định dân sự thuộc Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cũng không thống nhất với các kết luận giám định số 155/KL-KTHS ngày 10/8/2023 của V1 - Bộ C tại Hà Nội; Kết luận giám định số 3636/KL-KTHS ngày 09/9/2024 của Phân Viện Khoa học Hình sự - Bộ C tại thành phố Hồ Chí Minh là: Không đủ cơ sở kết luận chữ ký đứng tên Võ Văn L và chữ ký đứng tên Nguyễn Thị Việt H dưới mục biên nhận ngày 26/12/1993 so với các mẫu so sánh có phải cùng một người ký ra hay không. Còn Phòng K - Công an tỉnh Đ có văn bản số 106/KTHS về việc từ chối giám định do mẫu so sánh có thời gian cách xa và không ổn định.
Tại cấp phúc thẩm bà H tiếp tục yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định đối với chữ ký của bà và ông L trong Biên nhận ngày 26/12/1993. Tuy nhiên, tại công văn số 408/C09-P5 của V1 Bộ C trả lời cho Tòa án có nội dung là chữ ký đứng tên Võ Văn L và Nguyễn Thị Việt H trên Biên nhận ngày 26/12/1993 đã được Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trưng cầu giám định 02 lần tại V1 - Bộ C - Bộ C tại thành phố Hồ Chí Minh. Kết luận giám định của 02 lần giám định thống nhất với nhau về cùng một nội dung và đối tượng giám định. Vì vậy, vụ việc không đủ điều kiện để thành lập Hội đồng giám định theo yêu cầu của quý Tòa và đề nghị nhận lại tài liệu.
Do đó, không thể căn cứ vào kết luận giám định Kết luật giám định số 48/2023/TTTVGĐDS ngày 10/01/2024, Trung tâm tư vấn, giám định dân sự thuộc Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam để chấp nhận yêu cầu của bà H.
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Việt H là có căn cứ.
Tại Tòa án cấp phúc thẩm bà H cũng không cung cấp được chứng cứ nào mới để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp.
[4] Xét ý kiến đề nghị của của vị Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà H là không có căn cứ như đã nhận định ở trên nên không chấp nhận.
[5] Xét ý kiến đề nghị của vị Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà N và ông Đ là có căn cứ nên chấp nhận.
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ như đã nhận định ở trên nên chấp nhận.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Việt H, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Do bà H là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Phần của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 147, Điều 148, Điều 91 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 166 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên Xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Việt H.
- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 177/2024/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Việt H.
- Về chi phí tố tụng khác:
Bà Nguyễn Thị Việt H phải chịu 17.061.000 đồng chi phí giám định. Do bà H đã tạm ứng số tiền 15.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Mỹ N đã tạm ứng số tiền 2.061.000 đồng nên bà H có nghĩa vụ trả lại cho bà N số tiền 2.061.000 đồng.
- Về án phí:
Bà Nguyễn Thị Việt H được miễn nộp tiền án phí sơ thẩm và phúc thẩm, do là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi Nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Sỹ Danh Đạt |
Bản án số 273/2025/DS-PT ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về dân sự đòi lại tài sản
- Số bản án: 273/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về dân sự đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Việt H- Nguyễn Thị Mỹ N
