TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 273/2025/DS-PT Ngày 23/5/2025 “V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chế Linh
Các Thẩm phán: Bà Phan Thị Tuyết Mai
Bà Hồ Thị Tuyết Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 81/2025/TLPT-DS ngày 03 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2025/DS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 247/2025/QĐ-PT ngày 14 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thu C, sinh năm 1949.
Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1985 và ông Hồ Hiếu T1, sinh năm 1996. Cùng địa chỉ: Số B đường H, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn:
- Bà Nguyễn Thị Bé T2, sinh năm 1963.
- Ông Lê Hữu N, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Số C, ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Lê Hữu N: Ông Hứa Tấn T3, sinh năm 2000. Địa chỉ: ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
Người bảo vệ quyền và lợi ịch hợp pháp của ông Lê Hữu N: Luật sư Nguyễn Văn Đ của Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư thành phố C.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Hữu P, sinh năm 1951.
- Ông Lê Thái T4, sinh năm 1947. (Chết năm 1987).
- Bà Lê Thị Mỹ H, sinh năm 1955.
- Bà Lê Bình Phương T5, sinh năm 1982.
- Ông Lê Hữu T6, sinh năm 1961 (Chết năm 2019).
- Bà Nguyễn Thị Bé T2, ông Lê Hữu N.
- Bà Lê Thị Mỹ C1, sinh năm 1987.
- Bà Lê Thị Mỹ A, sinh năm 1990.
- Bà Lê Thị Mỹ N1, sinh năm 1993.
- Bà Lê Thị Mỹ N2, sinh năm 1993.
- Bà Lê Thị Mỹ K, sinh năm 2000.
- Ông Lê Hữu B, sinh năm 1989.
- Ông Lê Hữu T7, sinh năm 1965.
- Bà Trương Hồng Y, sinh năm 1964.
- Ông Lê Hữu T8, sinh năm 1993.
- Bà Lê Thị Hồng T9, sinh năm 1995.
- Ông Châu Văn S, sinh năm 1944.
- Ông Châu Hoài N3, sinh năm 1972.
- Bà Trần Lý Dạ Phương T10, sinh năm 1977.
- Ông Châu Hoài N4, sinh năm 1982.
- Bà Đinh Thị Trúc P1, sinh năm 1990.
- Ông Châu Hoài N5, sinh năm 1990.
- Bà Châu Ngọc N6, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng:
Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng:
Cùng địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng:
Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ.
Cùng địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ.
Ông S, ông N3, bà T10, ông N4, bà P1, ông N5, bà N6 ủy quyền cho ông Nguyễn Minh T và ông Hồ Hiếu T1.
- Người làm chứng:
- Bà Lê Thị T11, sinh năm 1936.
- Ông Nguyễn Văn A1, sinh năm 1932.
- Ông Bùi Văn Ú, sinh năm 1975.
Cùng địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ.
- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Bé T2 và ông Lê Hữu Nghĩa L bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phía nguyên đơn trình bày:
Nguyên trước đây vào năm 1975, mẹ ruột bà C là bà Lý Tuyết M có cho bà C phần đất để cất nhà ở và phần đất vườn diện tích khoảng 309m². Đến ngày 13/8/1999, bà Lý Tuyết M có lập Tờ thỏa thuận với nội dung như sau: “Nay tôi thống nhất cho con gái tôi (tức bà Lê Thị Thu C) số đất thổ cư với diện tích đất là từ mé sông rạch Bà H1 vô 19m về hướng tây có đóng cọc làm chuẩn, từ cọc chuẩn phía sau nhà (hướng Bắc) ngang qua 16m5 phân giáp (hướng Nam) mặt tiền ngang qua 16m (hướng đông)."
Bà M đã cho bà C phần đất chiều dài 19m, ngang trước 16m, ngang sau 16,5m. Đất tọa lạc tại: ấp N (nay là ấp N), xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ. Tổng diện tích khoảng 309m².
Ngày 23/7/2001, bà Lý Tuyết M chết. Sau đó, bà C có tiến hành sửa nhà và xây dựng hàng rào trên phần đất đang sử dụng thì ông Lê Hữu T6 ngăn cản không cho bà C xây dựng và cho rằng bà C lấn chiếm đất của ông T6. Nhưng trên thực tế, phần đất này là phần đất mẹ cho bà C năm 1975 và ở từ đó đến nay, hoàn toàn không liên quan gì tới phần đất mẹ bà C cho ông T6.
Sau đó một thời gian thì ông T6 chết, vợ và con ông T6 là bà Nguyễn Thị Bé T2 và ông Lê Hữu N tiếp tục tranh chấp phần đất trên với bà C.
Ngày 25/7/2023 bà C khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ giải quyết như sau: Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở cho bà C phần diện tích khoảng 309m², đất tọa lạc tại ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ do mẹ ruột bà C là bà Lý Tuyết M cho bà C.
Ngày 25/10/2024 bà Lê Thị Thu C có đơn khởi kiện (bổ sung) yêu cầu: Công nhận phần đất có diện tích 328.8m², loại đất ONT, thửa 6971, tờ bản đồ số 10, đất tọa lạc tại ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà C. Phần đất này do bà Lý Tuyết M cho bà Lê Thị Thu C.
Người đại diện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Châu Văn S, ông Châu Hoài N3, bà Trần Lý Dạ Phương T10, ông Châu Hoài N4, bà Đinh Thị Trúc P1, ông Châu Hoài N5, bà Châu Ngọc N6 là ông Hồ Hiếu T1 trình bày: Các ông bà là chồng và con của bà C, các ông bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà C và không có ý kiến gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị Mỹ H, bà Lê Bình Phương T5 có bản tự khai trình bày: Bà H là vợ ông Lê Thái T4, bà T5 là con ông T4. Khi còn sống bà M có cho đất bà C để cất nhà và sinh sống, việc cho đất các anh chị em trong nhà đều biết và tại thời điểm đó không ai tranh chấp. Nay bà H, bà T5 vẫn thống nhất đề nghị Tòa án công nhận cho bà C tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất tại địa chỉ ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ. Bà H, bà T5 không có ý kiến, không tranh chấp gì đối với phần đất này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Hồng Y, ông Lê Hữu T8, bà Lê Thị Hồng T9 có bản tự khai trình bày: Bà Y là vợ ông Lê Hữu T7, ông T8 và bà T9 là con ông T7. Các ông bà đều thống nhất phần đất đang tranh chấp do bà Lê Thị Thu C quản lý, sử dụng từ năm 1975 đến nay. Các ông bà không tranh chấp đối với phần đất bà C đang quản lý, sử dụng.
Người làm chứng bà Lê Thị T11, ông Nguyễn Văn A1, ông Bùi Văn Ú có bản tự khai trình bày: Vào năm 1998, giữa bà M và bà C có phát sinh tranh chấp và yêu cầu Bộ phận ban ngành thuộc ấp N (nay là ấp N) hòa giải. Các ông bà đều xác nhận có ký vào Tờ thỏa thuận của bà M và bà C, ông T6 cũng có mặt và ký vào “Tờ thỏa thuận” dưới sự chứng kiến của Tổ hòa giải.
-Tại bản án dân sự sơ thẩm số 06/2025/DSST ngày 23 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền đã tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Thu C.
- Về chi phí đo đạc, định giá: Chi phí đo đạc, định giá và lấy bản vẽ là 10.000.000 đồng. Số tiền này nguyên đơn tự nguyện chịu. Nguyên đơn đã nộp và thanh toán xong.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Công nhận bà Lê Thị Thu C được quản lý, sử dụng phần đất tại thửa 6971, có diện tích 328.8m², loại đất ONT (diện tích HLLG 79.6m²).
(Đính kèm Bản Trích đo địa chính số 253/VPĐKĐĐ ngày 20/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C).
Đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan có thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng đất theo đúng quy định pháp luật.
Bà Lê Thị Thu C tự nguyện chịu án phí dân sự sơ thẩm cho bị đơn là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn là ông Lê Hữu N giữ nguyên kháng cáo. Bị đơn là bà Nguyễn Thị Bé T2 vắng mặt. Các bên không thoả thuận được việc giải quyết tranh chấp.
Quan điểm của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn – ông Lê Hữu N: Văn bản thoả thuận tặng cho quyền sử dụng đất của bà M cho bà C là bản phô tô nên không phải là chứng cứ. Toà án sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng khi xác định địa chỉ của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Diện tích bà C đang sử dụng lớn hơn diện tích được cho theo văn bản thoả thuận nhưng chưa được làm rõ. Bị đơn cung cấp di chúc của bà M đề nghị xem xét. Từ đó, Luật sư đề nghị Toà án phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tại phiên tòa: Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, các quy định pháp luật liên quan, đại diện Viện kiểm sát cho rằng Toà án cấp sơ thẩm có sai sót về tố tụng. Tuy nhiên, về bản chất vụ án, di chúc bà M được lập trước văn bản thoả thuận cho bà C đất. Bà C đã sử dụng ổn định, được các thừa kế của bà M thừa nhận nên đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Theo đơn khởi kiện và các chứng cứ đã thẩm tra cho thấy, các bên tranh chấp quyền sử dụng đất. Toà án nhân dân huyện Phong Điền đã thụ lý là đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ tranh chấp theo quy định tại khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Tại phiên toà phúc thẩm, phía bị đơn cung cấp các tài liệu là bản sao tờ di chúc của bà Lý Tuyết M lập ngày 17/01/1999, Đơn xác nhận có Ủy ban nhân dân xã N xác nhận đương sự là ông Lê Hữu P đã đi nước ngoài từ năm 1975. Đây là các chứng cứ mới được đánh giá cần được đánh giá để làm rõ sự việc. Bên cạnh đó, quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm có những sai sót được nhận định từ mục [3] đến mục [6] sau đây.
[3] Theo xác nhận số 142/CAX ngày 16/9/2024 của Công an xã N thì các đương sự Lê Hữu P, Lê Thị Mỹ C1 không có đăng ký thường trú tại địa chỉ ấp N, xã N. Việc xác nhận địa chỉ của Lê Hữu P phù hợp với tài liệu về địa chỉ mà bị đơn đã cung cấp tại giai đoạn phúc thẩm. Do vậy, thủ tục niêm yết xét xử vắng mặt đối với ông P, bà C1 là không đảm bảo quy định tố tụng. Trong trường hợp này, Toà án cấp sơ thẩm cần yêu cầu đương sự cung cấp địa chỉ sau cùng của ông P, bà C1 để tiến hành thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự.
[4] Quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm tiến hành thẩm định tại chỗ hai lần vào các ngày 17/11/2023 và 14/3/2024. Trong đó, lần thẩm định ngày 17/11/2023, hồ sơ thể hiện, Toà án không tống đạt thông báo, văn bản về việc thẩm định này cho bị đơn. Kết quả thẩm định là Bản trích đo địa chính số 253/VPĐKĐĐ ngày 20/6/2025 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C cũng chưa được công khai chứng cứ cho bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Đáng lưu ý là theo thoả thuận ngày 13/8/1999 thì bà M cho bà C phần đất bề ngang 16,5 m. Nhưng thực tế theo Bản trích đo trên thì chiều ngang trước là 18,76 m, ngang sau là 18,77 m. Việc sử dụng phần đất lớn hơn phần bà M đã cho sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của những người thừa kế của bà M. Do vậy, cần công khai tài liệu này trước khi xét xử để đảm bảo quyền lợi của những người có quyền nghĩa vụ liên quan.
[5] Toà án sơ thẩm mở phiên toà lần hai để xét xử vắng mặt đương sự. Tại các biên bản niêm yết thể hiện tại các bút lục 164 và 165 cho thấy thời điểm mở phiên toà là không đảm bảo các quy định tại khoản 3 Điều 147 và khoản 6 Điều 148 Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 3 Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[6] Mặt khác, với tài liệu là di chúc của bà M do bị đơn cung cấp cho thấy, ngày 17/01/1999 bà M lập di chúc định đoạt quyền sử dụng đất. Ngày 13/8/1999, bà M có thoả thuận cho bà C một phần đất. Trong nội dung di chúc, bà M còn định đoạt cho bà Lê Bình P2 Thảo 1.000 m², cho thêm ông Lê Hữu T7 500 m². Số đất còn lại giao cho ông Lê Hữu T6. Như vậy, cần làm rõ, các người thừa kế theo di chúc đã biết và nhận di sản chưa. Phần đất bà C đang sử dụng thuộc phần đất nào trong các phần mà bà M đã để di chúc lại cho bà T5, ông T7, ông T6.
[7] Từ các nhận định trên cho thấy, quá trình Toà án sơ thẩm giải quyết vụ án đã có những sai sót mà cấp phúc thẩm không khắc phục được. Trong đó, nguyên nhân sai sót một phần vì đương sự không hợp tác, không cung cấp đầy đủ chứng cứ. Căn cứ Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại theo đúng quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Hủy bản án sơ thẩm số 06/2024/DSST ngày 23/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Án phí, lệ phí dân sự sơ thẩm sẽ được xác định khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Ông Lê Hữu N được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số 0003268 ngày 19/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Điền.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Nơi nhận: Các đương sự; - VKSND.TPCT; - TAND huyện Phong Điền - THADS huyện Phong Điền - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA - Nguyễn Chế Linh |
Bản án số 273/2025/DS-PT ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 273/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại QSDĐ
