|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 273/2024/HS-ST
Ngày: 13/6/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Lê Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Hương Thủy
- Ông Cao Quốc Hưng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 11 và 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 132/2024/HSST ngày 20 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 230/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2024/HSST- QĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Nguyễn Duy H, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 2000 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: I P, khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện tại: 78/20 đường F, khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Con ông Nguyễn Đăng V và bà Phạm Thị H1; Vợ con chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Phạm Kiều T, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh năm: 1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: C T, khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện tại: C T, khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Con ông Phạm Trí T1 và bà Trần Thị K; Chồng: Đào Minh N; Có 01 người con sinh năm 2015; Tiền án: Không, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Huỳnh Thanh T2, sinh năm 1995 (có mặt)
- Chị Võ Cẩm S, sinh năm 1984 (vắng mặt)
- Phạm Kiều T, sinh năm: 1989 (có mặt)
Địa chỉ: 2 T, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: G Tổ B, Ấp T, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương.
Địa chỉ: C T, khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Người làm chứng:
- Anh Võ Lâm Q, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Địa chỉ: G đường F, khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mối quan hệ từ trước nên Phạm Kiều T nhắn tin qua mạng xã hội facebook với Nguyễn Duy H hỏi vay tiền với lãi suất 20% đến 25%/tháng, H đồng ý, cụ thể như sau:
- Ngày 27/11/2022, T vay 20.000.000 đồng, lãi suất 20%/tháng, tương đương 4.000.000 đồng/ 01 tháng. T đóng tiền lãi 04 tháng là 16.000.000 đồng.
- Ngày 03/12/2022, T vay 30.000.000 đồng với lãi suất 20%/tháng, tương đương 6.000.000 đồng/ tháng. T đóng tiền lãi 3 tháng là 18.000.000 đồng.
- Ngày 09/02/2023, T vay 50.000.000 đồng với lãi suất 22%/tháng, tương đương 11.000.000 đồng/tháng. T đóng tiền lãi 02 tháng là 22.000.000 đồng.
- Ngày 11/2/2023, T vay 20.000.000 đồng với lãi suất 22%/tháng, tương đương 4.200.000 đồng/tháng. T đóng tiền lãi 02 tháng là 8.800.000 đồng
- Ngày 13/02/2023, T vay 20.000.000 đồng với lãi suất 25%/tháng, tương đương 5.000.000 đồng/tháng. T đóng tiền lãi 02 tháng là 10.000.000 đồng.
Tổng số tiền Nguyễn Duy H cho T vay là 140.000.000 đồng, thu lãi 74.800.000 đồng, trong đó thu lãi suất đúng quy định là 5.833.333 đồng, thu lãi suất không đúng quy định là 68.966.667 đồng (tương đương với lãi suất từ 20% đến 25%/01 tháng; tương đương 240% đến 300%/năm, gấp 12 đến 15 lần so với lãi suất mà Bộ luật dân sự quy định). Ngày 16/5/2023, H yêu cầu T trả lại tiền gốc đã vay, nhưng T không có tiền trả nên T đã đến Công an trình báo.
Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra, H và T đã khai nhận như trên. Ngoài ra, H và T còn thỏa thuận với nhau là H sẽ đưa tiền cho T để T tìm người cho vay, lãi suất ăn chia 8/2 (H, T 20%) với tổng số tiền 247.950.000 đồng. Từ tháng 12/2022 đến tháng 3/2023, T lấy tiền của H cho chị Võ Cẩm S và chị Huỳnh Thanh T2 vay cụ thể như sau:
Từ tháng 12/2022 đến tháng 3/2023: T, H cho chị Huỳnh Thanh T2 vay tiền gốc bằng chuyển khoản nhiều lần số tiền 30.530.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 50.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tuy nhiên qua thực tế trả tiền lãi không đúng như thỏa thuận do T2 trả tiền lãi nhiều lần không cố định có những khoản T2 trả T2 không nhớ, đã thu lãi qua chuyển khoản số tiền 94.633.999 đồng (trong đó lãi suất đúng quy định là 2.035.332 đồng, lãi suất vượt quá quy định là 92.598.667 đồng, tương ứng lãi suất 77%/01 tháng, tương ứng 924%/01năm, gấp 46,2 lần mức cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự).
T, H đã thu lợi bất chính 92.598.667 đồng, H hưởng 74.078.933 đồng, T hưởng 18.519.733 đồng). Số tiền gốc 30.530.000 đồng hiện tại chị T2 trả lại cho T và H.
Từ tháng 12/2022 đến tháng 3/2023: T, H cho chị Võ Cẩm S vay tiền gốc bằng chuyển khoản nhiều lần số tiền 138.950.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 50.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tuy nhiên qua thực tế trả tiền lãi không đúng như thỏa thuận do S trả tiền lãi nhiều lần không cố định có những khoản S trả S không nhớ, đã thu tiền lãi qua chuyển khoản số tiền 132.550.000 đồng (trong đó lãi suất đúng quy định 9.263.332 đồng, lãi suất vượt quy định là 123.286.667 đồng, tương ứng lãi suất 24%/01 tháng, tương ứng 288%/1 năm, gấp 14,4 lần mức cao nhất qui định tại Điều 468 Bộ luật dân sự, T, H đã thu lợi bất chính 123.286.668 đồng, H hưởng 98.629.333 đồng, T hưởng 24.657.333 đồng). Hiện tại chị S đã trả được 65.000.000 đồng tiền gốc, còn nợ tiền gốc 73.950.000 đồng.
Số tiền còn lại 78.470.000 đồng T giữ lại tiêu xài nhưng vẫn trả lãi cho H theo thỏa thuận lãi suất 50.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tuy nhiên qua thực tế trả tiền lãi không đúng như thỏa thuận do T trả tiền lãi nhiều lần không cố định có những khoản T trả H không nhớ, đã thu tiền lãi qua chuyển khoản số tiền 19.606.000 đồng (trong đó lãi suất đúng quy định 5.231.333 đồng, lãi suất vượt quy định là 14.374.667 đồng tương ứng lãi suất 6%/01 tháng, tương ứng 72%/1 năm, vượt 52% quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự). H đã thu lợi bất chính 14.374.667 đồng. Hiện tại T vẫn nợ H 78.470.000 tiền gốc và 140.000.000 đồng tiền gốc vay riêng trước đó. Tổng số tiền gốc mà T còn nợ H là 218.470.000 đồng.
Tổng số tiền Nguyễn Duy H, Phạm Kiều T thu lợi bất chính từ việc cho chị Huỳnh Thanh T2 và chị Võ Cẩm S vay tiền là 215.885.335 đồng. Lãi suất mà Nguyễn Duy H2, Phạm Kiều T cho chị T2 và chị S vay tiền là từ 24%/tháng đến 77%/tháng, 288%/năm đến 924%/năm. Ngoài ra, H2 thu lợi bất chính từ việc cho Phạm kiều T vay tiền là 83.341.334 đồng, tương ứng lãi suất từ 20% đến 25%/01 tháng; 240% đến 300%/năm.
Vật chứng của vụ án
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax (thu của H2); - 01 điện thoại di động hiệu Redmiby Xiaomi (thu của T); - 01 quyển sổ màu đen hiệu Thuận Tiến (thu của T).
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo H2 yêu cầu Phạm Kiều T, Huỳnh Thanh T2 và Võ Cẩm S trả lại tiền gốc cụ thể là: T 218.470.000 đồng, T2 là 30.530.000 đồng và S là 73.950.000 đồng.
Cáo trạng số 140/CT-VKSTPTĐ ngày 14/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Nguyễn Duy H và Phạm Kiều T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Duy H và Phạm Kiều T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố.
Về phần trách nhiệm dân sự: Bị cáo H vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc Phạm Kiều T, Huỳnh Thanh T2 và Võ Cẩm S trả lại tiền gốc cụ thể là: T 218.470.000 đồng, T2 là 30.530.000 đồng và S là 73.950.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Nguyễn Duy H và Phạm Kiều T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 201, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Duy H từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, xử phạt bị cáo Phạm Kiều T từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo.
Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử, xử lý theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo Nguyễn Duy H và Phạm Kiều T không tranh luận và các bị cáo nói lời sau cùng rất hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Duy H và Phạm Kiều T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ của vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:
Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2022 đến tháng 03/2023, Nguyễn Duy H; Phạm Kiều T đã cho 02 người trên địa bàn thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh là chị Huỳnh Thanh T2 vay với số tiền 30.530.000 đồng và chị Võ Cẩm S vay với số tiền 138.950.000 đồng dưới hình thức vay đứng với mức lãi suất cho vay từ 24%/tháng đến 77%/tháng, 288%/năm đến 924%/năm, vượt gấp 14,4 lần đến 46,2 lần so với mức lãi suất theo quy định của Bộ luật dân sự; thu lợi bất chính với tổng số tiền 215.885.335 đồng.
Ngoài ra, thời gian từ 27/11/2022 đến 13/02/2023 Nguyễn Duy H cho Phạm Kiều T vay với số tiền 140.000.000 đồng dưới hình thức vay đứng với mức lãi suất cho vay từ lãi suất từ 20% đến 25%/01 tháng; 240% đến 300%/năm gấp 12 đến 15 lần so với lãi suất Bộ luật dân sự quy định; thu lợi bất chính với số tiền 68.966.667 đồng; đồng thời thời gian từ 12/2022 đến tháng 03/2023 khi H đưa tiền cho T để T cho người khác vay tuy nhiên T giữ lại số tiền 78.470.000 đồng và T trả lãi cho H với lãi suất 6%/01 tháng, 72%/1 năm, vượt 52% quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự, H đã thu lợi bất chính 14.374.667 đồng. Tổng số tiền H thu lợi bất chính của T là 83.341.334 đồng.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Duy H và Phạm Kiều T đã phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3] Lời khai của các bị cáo đã thống nhất với tội danh và điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội đối với các bị cáo. Như vậy, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của Nguyễn Duy H và Phạm Kiều T đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các hoạt động tín dụng, kinh doanh tiền tệ, xâm phạm lợi ích của công dân. Bị cáo H và T đã lợi dụng nhu cầu vay tiền để giải quyết các nhu cầu cấp bách phục vụ đời sống nhưng những người này lại không có đủ điều kiện vay tiền của các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng của Nhà nước để cho vay với mức lãi suất vượt gấp nhiều lần quy định, thu lợi bất chính số tiền lớn. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo Nguyễn Duy H và Phạm Kiều T có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, động cơ, mục đích phạm tội là nhằm thu lợi bất chính từ việc cho vay lãi nặng.
[4] Xét đây là vụ án có tính chất đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẻ, bị cáo H là người trực tiếp đưa tiền T vay cũng như đưa tiền cho T để T cho người khác vay nhằm thu lợi bất chính (trong đó H đã thực tế thu số tiền thu lợi bất chính là 299.226.669 đồng và T đã thực tế thu số tiền thu lợi bất chính là 43.177.067 đồng).
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T và H thực hiện nhiều lần hành vi cho vay lãi nặng, số tiền thu lợi bất chính của mỗi lần từ 30.000.000 đồng trở lên đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo H và T phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là lao động chính trong gia đình, có một phần lỗi của người vay (người vay biết rõ lãi suất mà người cho vay là vượt quá quy định pháp luật thuộc trường hợp cho vay lãi nặng nhưng vẫn tự nguyện xác lập giao dịch dân sự một cách trái pháp luật) đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc trường hợp “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có một phần lỗi của người cho vay, là lao động chính trong gia đình” được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[7] Căn cứ vào tính chất mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo.
Xét bị cáo Nguyễn Duy H và Phạm Kiều T có nhân thân tốt trước khi phạm tội, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, không thuộc trường hợp không được hưởng án treo, xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, cho bị cáo H, T hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 cũng đủ để tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo.
[8] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[9] Về xử lý vật chứng:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax (thu của H) và 01 quyển sổ màu đen hiệu Thuận Tiến (thu của T), không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo H, bị cáo T.
- 01 điện thoại di động hiệu Redmiby Xiaomi (thu của T); T sử dụng vào mục đích phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[10] Xử lý vật, tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm:
[10.1] Đối với khoản tiền 387.950.000 đồng mà bị cáo Nguyễn Duy H đã bỏ ra để cho Phạm Kiều T vay 218.470.000 đồng; cho chị Huỳnh Thanh T2 vay 30.530.000 đồng và cho chị Võ Cẩm S vay 138.950.000 đồng (chị S đã trả lại cho H 65.000.000 đồng) là khoản tiền người phạm tội dùng để cho vay. Căn cứ vào Điều 47; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thì tịch thu sung vào quỹ nhà nước do đó buộc H, T, T2 và S nộp lại cụ thể như sau:
- Nguyễn Duy H nộp lại số tiền 65.000.000 đồng.
- Phạm Kiều T nộp lại số tiền 218.470.000 đồng.
- Huỳnh Thanh T2 nộp lại số tiền 30.530.000 đồng.
- Võ Cẩm S nộp lại số tiền 73.950.000 đồng.
[10.2] Đối với khoản tiền 22.363.330 đồng mà bị cáo T và bị cáo H đã thu của người vay là khoản tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự. Căn cứ vào Điều 47; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thì tịch thu sung vào quỹ nhà nước do đó buộc H, T nộp lại cụ thể như sau:
- Nguyễn Duy H nộp lại số tiền 20.103597 đồng.
- Phạm Kiều T nộp lại số tiền 2.259.733 đồng.
[10.3] Đối với khoản tiền 299.226.669 đồng (cụ thể Nguyễn Duy H thu của Phạm Kiều T là 83.341.334 đồng, thu của T2 74.078.933 đồng, thu của S 98.629.333 đồng và Phạm Kiều T thu của T2 18.519.734 đồng, thu của S 24.657.333 đồng) là khoản tiền thu lợi bất chính mà người phạm tội thực tế đã thu. Căn cứ vào Điều 47, Điều 48, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thì trả lại cho người vay nên buộc Nguyễn Duy H và Phạm Kiều T nộp lại cụ thể như sau:
Buộc Nguyễn Duy H nộp lại số tiền 83.341.334 đồng để trả cho Phạm Kiều T.
Buộc Nguyễn Duy H và Phạm Kiều T liên đới nộp lại số tiền 215.885.335 đồng (cụ thể H nộp lại 172.708.266 đồng và T nộp lại là 43.177.067 đồng) để trả lại cho bà T2 số tiền là 92.598.667 đồng và trả cho bà S là 123.286.668 đồng.
[11] Về trách nhiệm dân sự:
H yêu cầu Phạm Kiều T, Huỳnh Thanh T2 và Võ Cẩm S trả tiền lại số tiền gốc là 322.950.000 đồng (cụ thể T là 218.470.000 đồng, T2 là 30.530.000 đồng và S là 73.950.000 đồng). Xét, như đã phân tích ở trên, số tiền gốc mà H yêu cầu là khoản tiền người phạm tội dùng để cho vay là phương tiện dùng vào việc phạm nên Hội đồng xét xử đã buộc H, T, T2 và S nộp lại để tịch thu sung vào quỹ nhà nước. Do đó, bị cáo H yêu cầu T, T2 và S trả lại số tiền gốc là không có cơ sở chấp nhận.
[12] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy H và Phạm Kiều T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- Áp dụng áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm. kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Xử phạt bị cáo Phạm Kiều T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Duy H cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Phạm Kiều T cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự;
- Trả lại: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax cho bị cáo Nguyễn Duy H và 01 quyển sổ màu đen hiệu Thuận Tiến cho bị cáo Phạm Kiều T.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Redmiby Xiaomi.
(Theo Phiếu nhập kho số NK24/167C ngày 12/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh)
- Buộc Nguyễn Duy H nộp lại số tiền 85.103.597 đồng, Phạm Kiều T nộp lại số tiền 220.729.733 đồng, Huỳnh Thanh T2 nộp lại số tiền 30.530.000 đồng, Võ Cẩm S nộp lại số tiền 73.950.000 đồng để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Buộc Nguyễn Duy H nộp lại số tiền 83.341.334 đồng để trả lại cho Phạm Kiều T.
- Buộc Nguyễn Duy H và Phạm Kiều T liên đới nộp lại số tiền 215.885.335 đồng (cụ thể H nộp lại 172.708.266 đồng và T nộp lại là 43.177.067 đồng) để trả lại cho Huỳnh Thanh T2 số tiền là 92.598.667 đồng và trả lại cho Võ Cẩm S số tiền là 123.286.668 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu của bị cáo H buộc Phạm Kiều T, Huỳnh Thanh T2 và Võ Cẩm S trả tiền gốc là 322.950.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Nguyễn Duy H và Phạm Kiều T mỗi người phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
- Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
( Đã giải thích chế định án treo cho các bị cáo)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu Hương |
Bản án số 273/2024/HS-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 273/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy H và Phạm Kiều T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
