|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 273/2024/DSPT
Ngày: 24/6/2024
V/v: T/c Hợp đồng tín dụng, Hợp
đồng thế chấp tài sản và HĐCNQSDĐ
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Dung
- Các thẩm phán: Bà Lê Thị Minh Trang
Bà Hồ Thị Tuyết Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Ban – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 33/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp tài sản và hợp đồng chuyển nhượng QSD đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXPT-DS ngày 24 tháng 4 năm 2024.
Do bản án sơ thẩm số 292/2023/DSST ngày 05/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, có kháng cáo giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1.
Địa chỉ: Số B, phố N, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Phương K, sinh năm 1992 (Có mặt).
Địa chỉ liên hệ: Số A, đường T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1964 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số B, đường M, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn Â, sinh năm 1985 (Vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1980 (Có mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp Q, xã H, huyện P, Hậu Giang.
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
- Bà Võ Thị K1, sinh năm 1984 (Có mặt).
- Ông Nguyễn Văn T (Vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị H1 (Vắng mặt).
- Ông Trần Văn S (Vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn R, sinh năm 1967 (Xin xét xử vắng mặt).
- Bà Huỳnh Thị T1, sinh năm 1967 (Có mặt).
- Ông Trần Văn T2, sinh năm 1988 (Xin xét xử vắng mặt).
- Bà Huỳnh Thị C, sinh năm 1993 (Xin xét xử vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn Hùng A, sinh năm 2000 (Xin xét xử vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn Hùng E, sinh năm 2003 (Xin xét xử vắng mặt).
- Ông Nguyễn Thanh H2, sinh năm 2005 (Có mặt).
- Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1964 (Có mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp Q, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
- Văn phòng C1 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số D, Quốc lộ A, ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Người kháng cáo: Ngân hàng TMCP Đ1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Phương K trình bày:
Ngày 30/8/2011, bà Nguyễn Thị Thu H cùng với Ngân hàng TMCP P – Phòng G, Hậu Giang, nay là Ngân hàng TMCP Đ1 (gọi tắt là P1) có ký Hợp đồng tín dụng hạn mức số 0608/2011/HĐHM-CN.HG cùng khế ước nhận nợ với số tiền 350.000.000 đồng, thời hạn vay 06 tháng, mục đích vay: Bổ sung vốn sản xuất kinh doanh đồ gỗ, lãi suất vay 22,4%/năm cho 01 tháng đầu tiên. Sau đó, lãi suất được điều chỉnh định kỳ 01 tháng một lần theo công thức: Lãi suất cho vay trong hạn bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm lãnh lãi cuối kỳ của kỳ hạn 12 tháng ở bậc thang cao nhất do W công bố cộng (+) biên độ tối thiểu, biên độ tối thiểu sẽ được điều chỉnh theo thông báo của W tại thời điểm thay đổi lãi suất. Để bảo đảm cho khoản vay nêu trên, bà Nguyễn Thị Thu H đã ký Hợp đồng thế chấp QSD đất số 0608/2011/HDTC/CN.HG ngày 30/8/2011 để thế chấp tài sản như sau:
- Bất động sản thứ 1: QSD đất diện tích 124m² (Loại đất: Ở tại nông thôn), thuộc thửa đất số 624, tờ bản đồ số 15, tọa lạc tại ấp Q, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang, theo Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 066674 (số vào sổ: CH00042) do UBND huyện P cấp ngày 01/02/2010, chỉnh lý sang tên bà Nguyễn Thị Thu H ngày 11/01/2011.
- Bất động sản thứ 2: QSD đất diện tích 789m² (Loại đất: Cây lâu năm), thuộc thửa đất số 632, tờ bản đồ số 15, tọa lạc tại ấp Q, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang, theo Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 066675 (số vào sổ: CH00043) do UBND huyện P cấp ngày 01/02/2010, chỉnh lý sang tên bà Nguyễn Thị Thu H ngày 11/01/2011.
- Bất động sản thứ 3: QSD đất diện tích 7.312m² (Loại đất: Trồng lúa), thuộc thửa đất số 678, tờ bản đồ số 15, tọa lạc tại ấp Q, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang, theo Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 066652 (số vào sổ: CH00044) do UBND huyện P cấp ngày 01/02/2010, chỉnh lý sang tên bà Nguyễn Thị Thu H ngày 11/01/2011.
- Bất động sản thứ 4: QSD đất diện tích 4.187m² (Loại đất: Cây hàng năm khác), thuộc thửa đất số 718, tờ bản đồ số 15, tọa lạc tại ấp Q, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang, theo Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 066653 (số vào sổ: CH00045) do UBND huyện P cấp ngày 01/02/2010, chỉnh lý sang tên bà Nguyễn Thị Thu H ngày 11/01/2011.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng bà Nguyễn Thị Thu H chỉ thanh toán được 19.946.324 đồng nợ lãi và đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ.
Vì vậy, Ngân hàng có đơn khởi kiện yêu cầu bà Thu H trả nợ tín dụng cho P1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 09/4/2020 là 1.409.755.927 đồng (trong đó, nợ gốc là 350.000.000 đồng, nợ lãi là 1.059.755.927 đồng) và tiếp tục chịu lãi từ ngày 10/4/2020 đến khi thanh toán dứt nợ. Trường hợp, bà Thu H không trả được nợ thì P1 có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự tiến hành phát mãi các tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp QSD đất số 0608/2011/HDTC/CN.HG ngày 30/8/2011 để thu hồi nợ.
* Theo đơn yêu cầu độc lập và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Á, ông L có ông Nguyễn Hồng T4 trình bày:
Nguồn gốc phần đất thế chấp tại P1 do cha mẹ của ông Nguyễn Văn  tạo lập. Khi còn sống cha mẹ ông  đã tặng cho các con từng phần đất cụ thể và những người này đã xây dựng ở trên đất. Sau khi cha mẹ ông  mất do không đủ diện tích đất để tách thửa nên các anh chị em ông  đã thực hiện thủ tục để ông  đứng tên trên toàn bộ QSD đất cha mẹ để lại. Khoảng cuối năm 2010 do có nhu cầu vốn để kinh doanh nên ông  có vay bà Thu H số tiền 200.000.000 đồng, lãi suất vay theo lãi suất Ngân hàng. Tại thời điểm vay, bà Thu H chỉ giao cho ông  số tiền 180.000.000 đồng, còn lại 20.000.000 đồng nói sẽ thanh toán sau vài ngày. Tuy nhiên, nhiều lần ông  đến nhà yêu cầu đưa tiếp số tiền còn lại nhưng bà Thu H cứ hẹn mà không giao, nên ngày 24/01/2011 bà H đã viết biên nhận là còn nợ lại ông  số tiền 20.000.000 đồng hẹn 30 ngày sẽ thanh toán đủ. Hiện nay bà H cũng chưa giao cho ông  số tiền này cho nên tổng số tiền ông  vay của bà H là 180.000.000 đồng.
Sau khi ký Tờ thỏa thuận vay tiền, ông  đã ký Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất cho bà Thu H ngày 15/11/2010 để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ vay. Hợp đồng được công chứng tại Văn phòng C2 (nay là Văn phòng C1) số công chứng 118, quyển số: I/2010/CC-SCC/HĐGD về việc chuyển nhượng 04 QSD đất như sau:
- QSD đất diện tích 124m² (Loại đất: Ở tại nông thôn), thuộc thửa đất số 624, tờ bản đồ số 15, tọa lạc tại ấp Q, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang, theo Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 066674 (số vào sổ: CH00042) do UBND huyện P cấp cho ông  ngày 01/02/2010.
- QSD đất diện tích 789m² (Loại đất: Cây lâu năm), thuộc thửa đất số 632, tờ bản đồ số 15, tọa lạc tại ấp Q, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang, theo Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 066675 (số vào sổ: CH00043) do UBND huyện P cấp cho ông  ngày 01/02/2010.
- QSD đất diện tích 7.312m² (Loại đất: Trồng lúa), thuộc thửa đất số 678, tờ bản đồ số 15, tọa lạc tại ấp Q, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang, theo Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 066652 (số vào sổ: CH00044) do UBND huyện P cấp cho ông  ngày 01/02/2010.
- QSD đất diện tích 4.187m² (Loại đất: Cây hàng năm khác), thuộc thửa đất số 718, tờ bản đồ số 15, tọa lạc tại ấp Q, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang, theo Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 066653 (số vào sổ: CH00045) do UBND huyện P cấp cho ông  ngày 01/02/2010.
Do Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 15/11/2010 giữa ông  với bà Thu H chỉ là giả tạo của Hợp đồng vay tài sản nên phải bị vô hiệu theo quy định tại Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2005. Đồng thời, toàn bộ quá trình Ngân hàng TMCP P – Phòng G, Hậu Giang, nay là Ngân hàng TMCP Đ1 cho bà H vay tiền thì ông  hoàn toàn không biết cũng như Ngân hàng không đến phần đất thế chấp để xem xét thẩm định hiện trạng tài sản trên đất khi cho vay là trái quy định của pháp luật.
Hơn nữa, từ bà Thu H vi phạm nghĩa vụ thanh toán đến thời điểm Ngân hàng nộp đơn khởi kiện là đã hết thời hiệu khởi kiện 03 năm theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện chỉ buộc bà Thu H trả lại nợ gốc 350.000.000 đồng cho P1, không tính lãi trong hạn và quá hạn.
* Tại đơn yêu cầu độc lập ngày 11/8/2023, ông Nguyễn Văn  yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề như sau:
- Tuyên bố vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giữa ông Nguyễn Văn  với bà Nguyễn Thị Thu H, được công chứng tại Văn phòng C2 (nay là Văn phòng C1) số công chứng 118, quyển số: I/2010/CC-SCC/HĐGD.
- Tuyên bố vô hiệu Hợp đồng thế chấp QSD đất số: 0608/2011/HĐTC-CN.HG ngày 30/8/2011 giữa Ngân hàng TMCP P (nay là Ngân hàng TMCP Đ1) với bà Nguyễn Thị Thu H.
- + Giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Ông  đồng ý trả lại số tiền 180.000.000 đồng đã vay của bà Thu H và lãi suất theo quy định của pháp luật. Đồng thời, kiến nghị Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P, tỉnh Hậu Giang xóa việc đăng ký giao dịch bảo đảm thế chấp QSD đất tại Ngân hàng TMCP P. Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ 04 giấy chứng nhận QSD đất nêu trên đã chỉnh lý sang tên bà Nguyễn Thị Thu H để cấp lại cho ông Nguyễn Văn  theo quy định của pháp luật.
* Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn L trình bày:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của ông Nguyễn Văn Đ, bà Mạch Thị L1 (cha mẹ ông) tạo lập và canh tác. Sau khi cha mẹ ông mất, để ông  đứng tên trên QSD đất. Trước đó, khi còn sống ông Đ, bà L1 đã tặng cho các anh chị em ông từng phần đất riêng và xây dựng ở trên đất, nhưng do không đủ diện tích đất để cấp giấy chứng nhận nên các anh chị em để cho ông  đứng tên toàn bộ diện tích đất của cha mẹ để lại. Việc ông  chuyển nhượng QSD đất cho bà Thu H gia đình ông không biết. Đối với yêu cầu khởi kiện của P1 về việc phát mãi tài sản thế chấp trong trường hợp bà H không trả nợ thì ông không đồng ý. Gia đình các anh chị em của ông chỉ có phần đất này để sinh sống nên yêu cầu ông  với bà Thu H giải quyết khoản nợ vay với Ngân hàng.
* Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn R, bà Huỳnh Thị T1, bà Võ Thị K1 cùng trình bày:
Thống nhất với trình bày của ông Nguyễn Văn L, không trình bày gì thêm.
Tại phiên tòa sơ thẩm;
- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Phương K trình bày: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của P1, đề nghị Tòa án:
- + Buộc bà Nguyễn Thị Thu H trả nợ tín dụng cho P1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 05/12/2023 là 1.879.470.356 đồng (trong đó, nợ gốc là 350.000.000 đồng, nợ lãi là 1.507.207.333 đồng) và tiếp tục chịu lãi từ ngày 06/12/2023 đến khi thanh toán dứt nợ. Trường hợp, bà H không trả được nợ thì P1 có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự tiến hành phát mãi các tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp QSD đất số 0608/2011/HDTC/CN.HG ngày 30/8/2011 để thu hồi nợ.
- + Không chấp nhận đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Â. Bởi lẽ, Ngân hàng không biết cũng không thể biết việc bà H với ông  có vay tài sản hay không? Căn cứ trên giấy chứng nhận QSD đất thì bà H là chủ sử dụng đất hợp pháp được pháp luật công nhận. Khi cho vay Ngân hàng đã tiến hành thẩm định giá tài sản thế chấp, Hợp đồng thế chấp QSD đất giữa P1 với bà H được công chứng, chứng thực và đăng ký giao dịch bảm đảo theo đúng quy định của pháp luật.
- Bị đơn vắng mặt.
Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hồng T4 trình bày: Giữ nguyên yêu cầu như đã trình bày nêu trên.
Tại bản án sơ thẩm số 292/2023/DSST ngày 05/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1.
Buộc bà Nguyễn Thị Thu H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 số tiền nợ tín dụng gốc là 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng).
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 về việc buộc bà Nguyễn Thị Thu H có nghĩa vụ thanh toán tổng nợ lãi với số tiền 1.507.207.333 đồng (Một tỷ, năm trăm lẻ bảy triệu, hai trăm lẻ bảy nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng) và yêu cầu phát mãi các tài sản thế chấp gồm: QSD đất diện tích 124m² (Loại đất: Ở tại nông thôn), thuộc thửa đất số 624, tờ bản đồ số 15; QSD đất diện tích 789m² (Loại đất: Cây lâu năm), thuộc thửa đất số 632, tờ bản đồ số 15; QSD đất diện tích 7.312m² (Loại đất: Trồng lúa), thuộc thửa đất số 678, tờ bản đồ số 15 và quyền sử dụng đất diện tích 4.187m² (Loại đất: Cây hàng năm khác), thuộc thửa đất số 718, tờ bản đồ số 15, cùng tọa lạc tại ấp Q, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang, theo các Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do UBND huyện P cấp ngày 01/02/2010 cho ông Nguyễn Văn Â, chỉnh lý sang tên bà Nguyễn Thị Thu H ngày 11/01/2011.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Â.
- Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 15/11/2010 giữa ông Nguyễn Văn A với bà Nguyễn Thị Thu H được công chứng tại Văn phòng C2 (số C, quyển số: I/2010/CC-SCC/HĐGD) và Hợp đồng thế chấp QSD đất số: 0608/2011/HĐTC-CN.HG ngày 30/8/2011 giữa bà Nguyễn Thị Thu H với Ngân hàng Thương mại cổ phần P2 được chứng thực tại UBND xã H (Số chứng thực: 52, quyển số 01/2011/TP/CC-STP/HĐGD) là vô hiệu.
- - Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu như sau:
- + Ghi nhận sự tự nguyện của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Â, ông Nguyễn Văn L về việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay số tiền nợ gốc 350.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Thu H đối với Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 trong thời hạn 03 (ba) tháng kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật.
- Trường hợp ông Nguyễn Văn Â, ông Nguyễn Văn L không thanh toán được đầy đủ số tiền nợ gốc 350.000.000 đồng thì ông Â, ông L đồng ý để Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 phát mãi các tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ.
- + Buộc ông Nguyễn Văn  có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị Thu H tổng số tiền nợ vay 404.065.000 đồng (Bốn trăm lẻ bốn triệu, không trăm sáu mươi lăm nghìn đồng), được khấu trừ số tiền ông Nguyễn Văn Â, ông Nguyễn Văn L đã thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1.
- Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- + Sau khi ông Nguyễn Văn Â, ông Nguyễn Văn L thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thay số tiền 350.000.000 đồng thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 có nghĩa vụ trả lại bản chính bốn giấy chứng nhận QSD đất cho ông Â. Đồng thời, kiến nghị Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P, tỉnh Hậu Giang xóa việc đăng ký giao dịch bảo đảm thế chấp QSD đất tại Ngân hàng TMCP P (Số vào sổ tiếp nhận: Quyển 01, số thứ tự 89, ngày 01 tháng 9 năm 2011). Kiến nghị Cơ quan có thẩm quyền thực hiện thu hồi, hủy bỏ 04 Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 066674 (số vào sổ: CH00042); Số BA 066675 (số vào sổ: CH00043); SỐ BA 066652 (số vào sổ: CH00044) và số BA 066653 (số vào sổ: CH00045) do UBND huyện P cấp cùng ngày 01/02/2010 cho ông Nguyễn Văn Â, chỉnh lý sang tên bà Nguyễn Thị Thu H ngày 11/01/2011.
- + Ông Nguyễn Văn  được quyền liên hệ các cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng ký cấp giấy lại Giấy chứng nhận QSD đất theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra Bản án còn tuyên về chi phí thẩm định, án phí và quyền kháng cáo theo qui định.
Ngày 20/12/2023 Ngân hàng có đơn kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm đối với việc áp dụng thời hiệu và chấp nhận yêu cầu được phát mãi tài sản của Ngân hàng.
Tại phiên tòa phúc thẩm Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; Bị đơn vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan giữ nguyên yêu cầu.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng; những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo qui định.
- Về nội dung: Căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần đơn khởi kiện của Ngân hàng buộc bà Thu H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền gốc là 350.000.000 đồng là chưa phù hợp. Bởi lẽ, căn cứ theo biên bản làm việc ngày 15/6/2015 giữa Ngân hàng và bà Nguyễn Thị Thu H đã chốt nợ gốc 350.000.000 đồng và nợ lãi. Như vậy, tại thời điểm này bà H đã xác nhận nợ lại với Ngân hàng, nên thời hiệu khởi kiện của Ngân hàng được tính là 03 năm kể từ ngày 16/6/2015 đến ngày 16/6/2018 (theo Điều 155 và Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015), đến ngày 27/4/2020 Ngân hàng khởi kiện bà Thu H là đã hết thời hiệu khởi kiện nên không tính lãi mà buộc bà H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền đã chốt vốn và lãi từ khi vay đến ngày 15/6/2015.
- Đối với yêu cầu kê biên tài sản thế chấp để đảm bảo khoản vay, như Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định thủ tục thẩm định tài sản cho vay của Ngân hàng chưa đúng thủ tục, phía Ngân hàng có tiến hành thẩm định tài sản thế chấp nhưng chỉ cung cấp cho Tòa án được Chứng thư thẩm định giá số 357/2012/CT-VNV ngày 20/12/2012 của Công ty T5. Xét Hợp đồng thế chấp giữa bà H với Ngân hàng được giao kết ngày 30/8/2011 nhưng Chứng thư thẩm định giá là vào ngày 20/12/2012 là chưa phù hợp. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và mục 1 Phần II của Công văn số 64/TANDTC-PC, thì Ngân hàng không phải là người thứ ba ngay tình cần được bảo vệ. Do đó, Hợp đồng thế chấp bị vô hiệu là có căn cứ, đúng quy định.
- Xét thấy, kháng cáo của Ngân hàng TMCP Đ1 là có căn cứ chấp nhận một phần. Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận một phần kháng cáo của Ngân hàng. Các đương sự phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết:
P1 khởi kiện yêu cầu buộc bà Nguyễn Thị Thu H thanh toán nợ vay theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết, trường hợp không thanh toán thì yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn  có đơn yêu cầu độc lập đề nghị Tòa án tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa ông  với bà H và Hợp đồng thế chấp QSD đất giữa bà H với Ngân hàng TMCP P là vô hiệu. Quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp tài sản và Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất”, do Bị đơn có địa chỉ tại quận N nên thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND quận Ninh Kiều theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là phù hợp.
[2] Thủ tục tố tụng:
- Xét Hợp đồng tín dụng hạn mức số 0608/2011/HĐHM-CN.HG ngày 30/8/2011 và Hợp đồng thế chấp QSD đất số 0608/2011/HDTC/CN.HG ngày 30/8/2011 được ký kết giữa bà Nguyễn Thị Thu H với Ngân hàng TMCP P – Phòng giao dịch N, Hậu Giang. Tuy nhiên, tại Quyết định số 2018/QĐ-NHNN ngày 12/9/2013 của Ngân hàng N đã quyết định hợp nhất Ngân hàng TMCP P và Tổng Công ty T6 thành Ngân hàng TMCP Đ1, theo Giấy phép thành lập và hoạt động số 279/GP-NHNN ngày 16/9/2013. Do đó, việc P1 kế thừa quyền và nghĩa vụ của Ngân hàng TMCP P khởi kiện bà Thu H là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 200 Luật Doanh nghiệp năm 2020.
- Tại phiên tòa Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có mặt thuộc các trường hợp đã có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt hoặc đã được tống đạt hợp lệ nhiều lần. Căn cứ theo khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cấp sơ thẩm tiến hành xét xử vắng mặt là đúng.
- Đối với yêu cầu áp dụng thời hiệu của ông Nguyễn Văn Â. Xét thấy tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn xác định bà Thu H vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngày 05/01/2012, lần cuối cùng làm việc với bà H là vào ngày 15/6/2015 nhưng đến ngày 28/4/2020 mới nộp đơn khởi kiện là hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 429, điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, yêu cầu áp dụng thời hiệu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là có cơ sở để chấp nhận.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
[3.1] Về yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng đối với yêu cầu buộc bà Nguyễn Thị Thu H trả nợ vay theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Căn cứ Hợp đồng tín dụng hạn mức số 0608/2011/HĐHM-CN.HG ngày 30/8/2011 và Khế ước nhận nợ ngày 05/9/2011 (BL 07 – 11) thể hiện nội dung bà Nguyễn Thị Thu H có vay của Ngân hàng TMCP P – Phòng G, Hậu Giang (nay là Ngân hàng TMCP Đ1) số tiền 350.000.000 đồng, thời hạn vay 06 tháng, mục đích vay: Bổ sung vốn sản xuất kinh doanh đồ gỗ, lãi suất vay 22,4%/năm cho 01 tháng đầu tiên. Các tháng tiếp theo sẽ được điều chỉnh theo quy định của Ngân hàng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Bị đơn chỉ thanh toán được 19.946.324 đồng nợ lãi là đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên P1 yêu cầu trả tổng số tiền tạm tính đến ngày 05/12/2023 là 1.879.470.356 đồng (trong đó, nợ gốc là 350.000.000 đồng, nợ lãi là 1.507.207.333 đồng) và tiếp tục chịu lãi từ ngày 06/12/2023 đến khi thanh toán dứt nợ.
Xét thấy, tại thời điểm 15/6/2015 bà H đã xác nhận nợ lại với Ngân hàng, nên thời hiệu khởi kiện của Ngân hàng được tính là 03 năm kể từ ngày 16/6/2015 đến ngày 16/6/2018 (theo Điều 155 và Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015), đến ngày 27/4/2020 Ngân hàng khởi kiện bà Thu H là đã hết thời hiệu khởi kiện nên không tính lãi mà buộc bà H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền đã chốt vốn và lãi từ khi vay đến ngày 15/6/2015 là ngày xác lập lại thời hiệu khởi kiện. Vì vậy cách tính lãi trong trường hợp này được tính từ khi vay đến ngày lập biên bản làm việc ngày 15/6/2015 của số tiền vay trên vốn gốc 350.000.000 đồng, lãi trong hạn và lãi quá hạn đến ngày 15/6/2015. Tổng số tiền vốn lãi là 792.960.000 đồng (Vốn 350.000.000 đồng, lãi trong hạn 22.263.023 đồng, lãi quá hạn 420.697.667 đồng).
Như vậy, yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn có cơ sở chấp nhận một phần đối với nợ gốc và một phần lãi là phù hợp, không chấp nhận yêu cầu thanh toán nợ lãi của khoản thời gian hết thời hiệu khởi kiện. Do đó yêu cầu kháng cáo của Nguyên đơn được chấp nhận một phần về phần lãi suất.
[3.2] Về yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng đối với yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Xét thấy yêu cầu khởi kiện này của Ngân hàng Đ2 với yêu cầu Tuyên bố vô hiệu Hợp đồng thế chấp QSD đất của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bù trừ lẫn nhau nên sẽ được xem xét, đánh giá chung qua phân tích dưới đây.
[4] Xét yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn Â.
[4.1] Đối với yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 15/11/2010 vô hiệu.
Xét thấy, theo Tờ hợp đồng thỏa thuận giữa ông Nguyễn Văn  (Bên A) và bà Nguyễn Thị Thu H (Bên B) có nội dung: Ông  đồng ý giao 04 giấy chứng nhận QSD đất cho bà H để vay số tiền 200.000.000 đồng. Các bên cam kết “Giữa bên A và bên B thỏa thuận là trên tinh thần tự nguyện không ai bị ép buộc, hai bên hợp tác cùng có lợi để vay tiền lãi suất Ngân hàng (chứ không hề mua bán tài sản ủy quyền ghi trên), đất bên A quản lý, sử dụng...”. Cuối Tờ thỏa thuận có xác nhận của ông Mai Thanh R1 (phó ấp) xác nhận ngày 13/12/2010. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 20/9/2023, ông Mai Thanh R1 xác nhận có ký vào Tờ thỏa thuận nêu trên và theo nội dung của Tờ thỏa thuận thì ông  có giao cho bà H 04 giấy chứng nhận QSD đất để thế chấp vay tiền Ngân hàng.
Hơn nữa, tại Biên bản làm việc ngày 15/6/2015 giữa Ngân hàng với bà Thu H thể hiện tại phần ý kiến khách hàng có nội dung: “Khách hàng sẽ tiến hành đàm phán với chủ canh tác đất để thỏa thuận về việc trả nợ”.
Như vậy, có cơ sở để khẳng định 04 thửa đất 624, 632, 678 và 718, cùng tờ bản đồ số 15 không phải QSD đất của bà Thu H. Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 15/11/2010 giữa ông  với bà Thu H chỉ là giả tạo nhằm che giấu hợp đồng vay tiền nên phải bị vô hiệu theo quy định tại Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2005.
[4.2] Đối với yêu cầu tuyên bố vô hiệu Hợp đồng thế chấp QSD đất số: 0608/2011/HĐTC-CN.HG ngày 30/8/2011 giữa Ngân hàng TMCP P với bà Nguyễn Thị Thu H. Đồng nghĩa với xét yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng về việc công nhận hiệu lực của Hợp đồng thế chấp tài sản.
Căn cứ Điều 129, khoản 2 Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2005, do Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất và tài sản gắn liền với đất ngày 15/11/2010 bị vô hiệu thì hợp đồng vay tài sản sẽ có hiệu lực pháp luật. Đồng thời, phía người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được nhận lại QSD đất. Tuy nhiên, sau khi ký Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất thì bà Thu H đã thực hiện thủ tục chỉnh lý sang tên trên các giấy chứng nhận QSD đất ngày 11/01/2011. Đến ngày 30/8/2011, bà H đã ký Hợp đồng thế chấp QSD đất với Ngân hàng TMCP P số 0608/2011/HĐTC-CN.HG để đảm bảo cho khoản nợ vay theo Hợp đồng tín dụng số 0608/2011/HĐHM-CN.HG.
Xét tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của P1 trình bày khi thực hiện thủ tục thế chấp QSD đất phía Ngân hàng có tiến hành thẩm định tài sản thế chấp nhưng chỉ cung cấp cho Tòa án được Chứng thư thẩm định giá số 357/2012/CT-VNV ngày 20/12/2012 của Công ty T5. Xét Hợp đồng thế chấp giữa bà H với Ngân hàng được giao kết ngày 30/8/2011 nhưng Chứng thư thẩm định giá là vào ngày 20/12/2012 là chưa phù hợp. Hơn nữa, nội dung của chứng thư thẩm định giá tài sản chỉ thể hiện giá trị tài sản thế chấp làm cơ sở cho vay, không có bất kỳ nội dung nào mô tả hiện trạng tài sản thế chấp. Ngoài ra, đại diện Ngân hàng không cung cấp được bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh việc thẩm định, xác minh tài sản khi nhận thế chấp QSD đất. Trong khi đó, tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 19/5/2023 của TAND quận Ninh Kiều thể hiện trên phần đất thế chấp có 05 căn nhà của ông Nguyễn Văn L, ông Nguyễn Văn T, ông Trần Văn S, ông Trần Văn T2, ông Nguyễn Văn R và 04 ngôi mộ của cha mẹ ông L, ông Nguyễn Văn K2 và mộ phần cháu ông L. Theo lời khai của ông Mai Thanh R1 ngày 20/9/2023 thì 05 căn nhà này đã có trước khi bà Thu H thế chấp tài sản tại Ngân hàng.
Đối chiếu với hướng dẫn tại Mục 1 Phần III Văn bản hướng dẫn số: 02/TANDTC-PC ngày 02/8/2021 của Tòa án nhân dân tối cao có nội dung: “Sau khi nhận chuyển nhượng, C dùng tài sản này thế chấp khoản vay tại Ngân hàng nhưng khi ký Hợp đồng thế chấp tài sản, Ngân hàng không thẩm định, xác minh nên không biết ông A, bà B vẫn quản lý, sử dụng nhà đất hoặc đã thẩm định nhưng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh ông A, bà B biết việc thế chấp tài sản này. Trong trường hợp này, bên nhận thế chấp tài sản (Ngân hàng) không phải là người thứ ba ngay tình theo quy định tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và mục 1 Phần II của Công văn số 64/TANDTC-PC, do vậy, Hợp đồng thế chấp tài sản cũng vô hiệu”. Như vậy, trong trường hợp này P1 không được xem là người thứ 3 ngay tình.
Hơn nữa, tại khoản 2 Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Trong trường hợp tài sản giao dịch là bất động sản hoặc là động sản phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba bị vô hiệu...”.
Đối chiếu với các quy định nêu trên thì trong trường hợp P1 ngay tình hoặc không ngay tình thì Hợp đồng thế chấp QSD đất ngày 30/8/2011 giữa bà Thu H với P1 đều bị vô hiệu. Vì vậy, cần kiến nghị Cơ quan có thẩm quyền tiến hành xóa thế chấp và thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận QSD đất đã cấp cho bà Thu H để ông  được thực hiện thủ tục đăng ký cấp giấy lại theo quy định của pháp luật. Ngược lại, ông  phải có trách nhiệm thanh toán nợ vay cho bà Thu H. Căn cứ Tờ hợp đồng thỏa thuận giữa ông  với bà H và Biên nhận ngày 24/01/2011 của bà H thì có cơ sở xác định số tiền vay của ông  thực tế là 180.000.000 đồng. Tại phiên tòa đại diện của ông  xác định ngày nhận tiền vay là ngày ký Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất 15/11/2010 và lãi suất vay được xác định theo lãi suất vay của Ngân hàng. Tuy nhiên, qua xem xét nội dung Tờ hợp đồng thỏa thuận giữa ông  với bà H không ghi cụ thể lãi suất vay bao nhiêu nên thuộc trường hợp không rõ lãi suất. Căn cứ khoản khoản 2 Điều 476 Bộ luật Dân sự năm 2005, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 và điểm c khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì lãi suất được xác định như sau:
- + Ngày 15/11/2010 đến ngày 31/12/2016 là 06 năm 01 tháng 17 ngày X 180.000.000 đồng X 9%/năm = 97.200.000 đồng + 1.350.000 đồng + 765.000 đồng = 99.315.000 đồng.
- + Ngày 01/01/2017 đến ngày 05/12/2023 là 06 năm 11 tháng 05 ngày X 180.000.000 đồng X 10%/năm = 108.000.000 đồng + 16.500.000 đồng + 250.000 đồng = 124.750.000 đồng.
Tổng số tiền vay ông  có nghĩa vụ trả cho bà Thu H là 404.065.000 đồng (trong đó nợ gốc là 180.000.000 đồng, nợ lãi là 224.065.000 đồng). Như vậy, yêu cầu tuyên bố Hợp đồng thế chấp QSD đất của ông Nguyễn Văn  là có cơ sở, yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp của P1 là chưa phù hợp nên không được chấp nhận.
Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp thêm chứng cứ mới nào khác nên không có cơ sở để xem xét. Giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần này.
[4.3] Xét đề nghị được trả nợ gốc thay của ông Nguyễn Văn L, ông Nguyễn Văn Â.
Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện theo ủy quyền của ông L, ông  đề nghị thực hiện nghĩa vụ trả thay số nợ gốc 350.000.000 đồng cho bà Thu H đối với P1 trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật để khấu trừ khoản nợ vay 180.000.000 đồng và lãi phát sinh. Trường hợp, không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thay cho bà H sẽ đồng ý để P1 phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Tuy nhiên tại phiên toà phúc thẩm những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (ông L, ông T3, bà T1, bà K1 đều đồng ý trả thay số nợ của ông  nợ bà H cho Ngân hàng để nhận lại giấy đất. Xét, đề nghị chuyển giao nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp với quy định tại Điều 370 Bộ luật Dân sự năm 2015 và có lợi cho P1 nên được ghi nhận. Tuy nhiên cấp phúc thẩm điều chỉnh số tiền nợ trả thay cho bà Thu H đối với Ngân hàng là 404.065.000 đồng.
[5] Đối với các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị được giữ nguyên.
[6] Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận một phần nên nguyên đơn và bị đơn mỗi bên phải chịu ½ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Do nguyên đơn đã nộp tạm ứng và chi xong nên bị đơn có nghĩa vụ trả lại số tiền 6.000.000 đồng.
[7] Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí có giá ngạch đối với số tiền lãi không được chấp nhận và án phí đối với yêu cầu phát mãi tài sản, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được Tòa án chấp nhận. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[8] Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí.
[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Nhận xét và đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Khoản 4, 6 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về hình thức: Chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ của Ngân hàng TMCP Đ1.
- Về nội dung: Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo Ngân hàng TMCP Đ1.
Sửa một phần Bản án sơ thẩm;
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1.
Buộc bà Nguyễn Thị Thu H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Đ1 số tiền nợ tín dụng là 792.960.000 đồng (Bảy trăm chín mươi hai triệu, chín trăm sáu mươi ngàn đồng). Trong đó vốn 350.000.000 đồng, lãi trong hạn và quá hạn là 442.960.000 đồng.
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1 về việc buộc bà Nguyễn Thị Thu H có nghĩa vụ thanh toán nợ lãi là 1.086.510.356 đồng và yêu cầu phát mãi các tài sản thế chấp gồm: QSD đất diện tích 124m² (Loại đất: Ở tại nông thôn), thuộc thửa đất số 624, tờ bản đồ số 15; QSD đất diện tích 789m² (Loại đất: Cây lâu năm), thuộc thửa đất số 632, tờ bản đồ số 15; QSD đất diện tích 7.312m² (Loại đất: Trồng lúa), thuộc thửa đất số 678, tờ bản đồ số 15 và QSD đất diện tích 4.187m² (Loại đất: Cây hàng năm khác), thuộc thửa đất số 718, tờ bản đồ số 15, cùng tọa lạc tại ấp Q, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang, theo các Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do UBND huyện P cấp ngày 01/02/2010 cho ông Nguyễn Văn Â, chỉnh lý sang tên bà Nguyễn Thị Thu H ngày 11/01/2011.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Â.
- Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 15/11/2010 giữa ông Nguyễn Văn A với bà Nguyễn Thị Thu H được công chứng tại Văn phòng C2 (số C, quyển số: I/2010/CC-SCC/HĐGD) và Hợp đồng thế chấp QSD đất số: 0608/2011/HĐTC-CN.HG ngày 30/8/2011 giữa bà Nguyễn Thị Thu H với Ngân hàng TMCP P được chứng thực tại UBND xã H (Số chứng thực: 52, quyển số 01/2011/TP/CC-STP/HĐGD) là vô hiệu.
- - Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu như sau:
- + Ghi nhận sự tự nguyện của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Â, ông Nguyễn Văn L và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay số tiền nợ gốc và lãi 404.065.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Thu H đối với Ngân hàng TMCP Đ1 trong thời hạn 03 (ba) tháng kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật.
- Trường hợp ông Â, ông L và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không thanh toán số tiền trên thì đồng ý để Ngân hàng được phát mãi các tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
- + Buộc Nguyễn Văn  có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị Thu H tổng số tiền nợ vay 404.065.000 đồng (Bốn trăm lẻ bốn triệu, không trăm sáu mươi lăm nghìn đồng), được khấu trừ số tiền ông Nguyễn Văn Â, ông Nguyễn Văn L và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho Ngân hàng TMCP Đ1.
- Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- + Sau khi ông Nguyễn Văn Â, ông Nguyễn Văn L thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thay số tiền trên thì Ngân hàng TMCP Đ1 có nghĩa vụ trả lại bản chính bốn Giấy chứng nhận QSD đất cho ông Â. Đồng thời, kiến nghị Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P, tỉnh Hậu Giang xóa việc đăng ký giao dịch bảo đảm thế chấp bằng QSD đất tại Ngân hàng TMCP P (Số vào sổ tiếp nhận: Quyển 01, số thứ tự 89, ngày 01 tháng 9 năm 2011). Kiến nghị Cơ quan có thẩm quyền thực hiện thu hồi, hoặc hủy bỏ 04 Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 066674 (số vào sổ: CH00042); SỐ BA 066675 (số vào sổ: CH00043); SỐ BA 066652 (số vào sổ: CH00044) và số BA 066653 (số vào sổ: CH00045) do UBND huyện P cấp cùng ngày 01/02/2010 cho ông Nguyễn Văn Â, chỉnh lý sang tên bà Nguyễn Thị Thu H ngày 11/01/2011.
- + Ông Nguyễn Văn  được quyền liên hệ các Cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng ký cấp lại Giấy chứng nhận QSD đất theo quy định của pháp luật.
- Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn và Bị đơn mỗi bên phải chịu 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) do nguyên đơn đã nộp tạm ứng và chi xong nên bà Nguyễn Thị Thu H có nghĩa vụ trả lại Ngân hàng TMCP Đ1 số tiền này.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- + Nguyên đơn phải chịu 44.595.311 đồng (Bốn mươi bốn triệu, năm trăm chín mươi lăm nghìn, ba trăm mười một đồng), được khấu trừ 27.146.500 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 002620 ngày 01/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Ngân hàng TMCP Đ1 phải nộp thêm số tiền 17.448.811đồng (Mười bảy triệu, bốn trăm bốn mươi tám nghìn, tám trăm mười một đồng).
- + Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu 35.718.400 đồng (Ba mươi lăm triệu, bảy trăm mười tám nghìn bốn trăm đồng).
- + Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn  phải nộp 20.162.240 đồng (Hai mươi triệu, một trăm sáu mươi hai nghìn, hai trăm bốn mươi nghìn đồng), khấu trừ lại 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0000035 ngày 29/8/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thì còn phải nộp thêm 19.862.000 đồng (Mười chín triệu, tám trăm sáu mươi hai nghìn đồng).
- Về án phí phúc thẩm: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu số 000736 ngày 29/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 24/6/2024.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Hồng Dung |
Bản án số 273/2024/DSPT ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản và hợp đồng chuyển nhượng qsd đất
- Số bản án: 273/2024/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp tài sản và Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: sửa một phần án sơ thẩm
