|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 272/2023/HNGĐ-ST Ngày: 27-12-2023 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Phương
Ông Nguyễn Đức Kha
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 224/2023/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 231/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/10/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 184/2023/QÐST-HNGĐ ngày 27/11/2023 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Giáp Thị H, sinh năm 1997 (vắng mặt);
Thường trú: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nơi ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
-
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1993 (vắng mặt);
Thường trú: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Hiện anh K đang lao động tại nước ngoài, không rõ địa chỉ cụ thể.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Giáp Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Trước khi kết hôn chị và anh K được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương, có đăng ký kết hôn ngày 23/11/2015 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hạnh phúc đến tháng 6 năm 2022 anh K đi lao động tại nước ngoài, thời gian đầu vợ chồng chị vẫn thường xuyên liên lạc với nhau đến tháng 7 năm 2023 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng chị không hợp nhau về tính cách, vợ chồng không có tiếng nói chung, vợ chồng chị đã hòa giải nhiều lần nhưng không đạt kết quả. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích của cuộc hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn K.
Về con chung: Chị và anh K có 02 con chung là Nguyễn Khánh L, sinh ngày 13/10/2016 và Nguyễn Khánh N, sinh ngày 06/11/2019. Hiện con chung đang sống cùng với chị. Nay vợ chồng ly hôn chị có nguyện vọng nuôi dưỡng, giáo dục cháu L và cháu N.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng chị không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết;
Về công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Nguyễn Văn K là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Ngày 09/10/2023 và ngày 20/10/2023, Tòa án tiến hành làm việc với bà Lưu Thị T, sinh năm 1964, địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang là mẹ đẻ anh Nguyễn Văn K, bà T cung cấp như sau: Chị H và anh K kết hôn năm 2015, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn anh, chị chung sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2017 thì xảy ra cãi vã, vợ chồng chung sống không hòa thuận, không hạnh phúc, gia đình bà đã tiến hành hòa giải nhưng không đạt kết quả, chị H trở về nhà mẹ đẻ sinh sống.
Sau khi nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, bà đã thông báo cho anh K biết nhưng anh K không gửi văn bản trình bày ý kiến về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và từ chối cung cấp địa chỉ hiện tại của anh K tại nước ngoài. Anh K có trao đổi với bà, anh K đồng ý ly hôn chị H và có nguyện vọng nuôi cháu Nguyễn Khánh L và đề nghị giao cháu Nguyễn Khánh N cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Cháu Nguyễn Khánh L trình bày: Tại biên bản lấy lời khai ngày 18/10/2023 cháu L có nguyện vọng sống cùng với chị H. Tại bản tự khai ngày 19/12/2023 cháu L thay đổi nguyện vọng sống cùng với anh K, chị H và bà T (bà nội cháu).
Tại phiên tòa, chị Giáp Thị H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Văn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt.
Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Giáp Thị H, biên bản làm việc, biên bản lấy lời khai và bản tự khai cháu Nguyễn Khánh L, thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chị Giáp Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn anh Nguyễn Văn K không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với bị đơn. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:
Về hôn nhân: Cho chị Giáp Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn K.
Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 13/10/2016 và Nguyễn Khánh N, sinh ngày 06/11/2019 cho chị Giáp Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Chị Giáp Thị H phải chịu 300.000đ tiền án phí được trừ vào số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thẩm quyền giải quyết, quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Giáp Thị H khởi kiện xin ly hôn anh K và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Anh K hiện đang ở nước ngoài anh không có địa chỉ cụ thể của anh K. Theo Công văn trả lời số: 26563/QLXNC-P3 ngày 09/10/2023 của Cục Q-Bộ C cung cấp, anh K đã xuất cảnh ngày 17/6/2022, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do vụ án có bị đơn anh K hiện nay đang ở nước ngoài. Địa chỉ cuối cùng của anh K ở Việt Nam tại: thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2].Về việc vắng mặt của đương sự: Đối với nguyên đơn chị Giáp Thị H: Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Giáp Thị H.
Đối với vắng mặt của bị đơn: Căn cứ theo lời khai của nguyên đơn, bà T là mẹ anh K, Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú cuối cùng của anh K trước khi xuất cảnh lần gần nhất ở thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án cho anh K thông qua người thân của anh K là bà Lưu Thị T (mẹ đẻ anh K) và đề nghị bà T thông báo cho anh K biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa nguyên đơn là chị Giáp Thị H và bị đơn là anh Nguyễn Văn K. Bà T cho biết anh K vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng anh K không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của anh K tại nước ngoài. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Giáp Thị H và anh Nguyễn Văn K kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 23/11/2015 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng chị H, anh K chung sống hòa thuận đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, mâu thuẫn trầm trọng từ tháng 7 năm 2023, chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn K.
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Giáp Thị H đối với anh Nguyễn Văn K. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị H, anh K chung sống với nhau hạnh phúc đến tháng 6 năm 2022 anh K đi lao động tại nước ngoài, năm 2023 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau nữa. Mặc dù đã được gia đình hòa giải đoàn tụ nhưng anh, chị đều quyết định không trở về chung sống với nhau nữa, chị H đã trở về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Do đó, Hội đồng xét xử xác định vợ chồng chị H, anh K không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 53, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh K, xử cho chị H được ly hôn anh K như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.
[4]. Về nuôi con chung: Chị H, anh K có 02 con chung là cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 13/10/2016 và Nguyễn Khánh N, sinh ngày 06/11/2019. Hiện nay hai con đang sinh sống cùng chị H, sau khi ly hôn chị H có nguyện vọng chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L và cháu N. Cháu L có nguyện vọng sống cùng với anh K, chị H và bà T (bà nội cháu).
Xét yêu cầu nuôi con chung của chị H, anh K: Hội đồng xét xử thấy hiện cháu L và cháu N đang sống cùng với chị H, các cháu phát triển bình thường cả về thể chất lẫn tinh thần, Theo tài liệu chị hoa cung cấp chị H hiện đang làm công nhân công ty cổ phần V, thu nhập hàng tháng là 8.100.000đ (Tám triệu một trăm nghìn đồng), thu nhập chị H ổn định, đảm bảo điều kiện chăm sóc và giáo dục con chung. Anh K hiện đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài, không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Để đảm bảo điều kiện tốt nhất cho con chung phát triển bình thường, tránh xáo trộn về cuộc sống, môi trường học tập của con chung. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của chị H, giao cháu L và cháu N cho chị H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật là phù hợp quy định pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích của con chung.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
[5].Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6].Về tài sản, công nợ chung: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7].Về án phí: Chị Giáp Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
[8]. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn chị Giáp Thị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở trong nước, nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Nguyễn Văn K vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở nước ngoài, nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn là 01 tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:
- Về hôn nhân: Chị Giáp Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn K.
-
Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 13/10/2016 và Nguyễn Khánh N, sinh ngày 06/11/2019 cho chị Giáp Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật;
Sau khi ly hôn anh K không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở anh K thực hiện quyền này.
-
Về án phí: Chị Giáp Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000008 ngày 09/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Giáp Thị H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
-
Về quyền kháng cáo bản án: Chị Giáp Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Anh Nguyễn Văn K có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Thị Thu Hiền |
Bản án số 272/2023/HNGĐ-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 272/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh cháp nuôi con giữa chị H và anh K
