|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 272/2023/DS-ST
Ngày: 24/10/2023
Vụ án: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Từ Thanh Đào
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tấn Triều
2. Bà Nguyễn Thị Mai Hồng
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Diệp – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thùy Ngân– Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 242/2022/TLST-DS ngày 06 tháng 6 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 827/2023/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần H3.
Địa chỉ: E N, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Hoàng L – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện ủy quyền của nguyên đơn: ông Bùi Đức Q, sinh năm 1974. Chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng Q1. Theo văn bản ủy quyền ngày 27/12/2021.
Ông Bùi Đức Q ủy quyền cho ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1990, chức vụ: CVCC Phòng XLN-KHCN và ông Lương Văn H, sinh 1986, chức vụ: CVCC Phòng XLN-KHCN. Theo văn bản ủy quyền ngày 16/9/2021.
- Bị đơn:
1. Bà Trần Thị T, sinh năm: 1971.
2. Ông Nguyễn Trọng H1, sinh năm 1968.
Cùng địa chỉ: số E đường C tháng tám, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Trần H2, sinh năm 1992.
2. Bà Huỳnh Thị M, sinh năm 1994.
Cùng địa chỉ: số E đường C tháng tám, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ.
(Nguyên đơn có mặt, bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Đại diện ủy quyền nguyên đơn trình bày:
Theo đơn khởi kiện ngày 27/12/2021, nguyên đơn là Ngân hàng Cổ phần H3 và bị đơn là ông Nguyễn Trọng H1, bà Trần Thị T đã ký kết hợp đồng cho vay kiêm khế ước nhận nợ số: 29-HLO/2015/HĐCV ngày 13/02/2015. Nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền là 69.000.000 đồng, lãi suất là 30,25%/năm, thời hạn vay là 60 tháng, mục đích vay là tiêu dùng cá nhân, hình thức trả nợ gốc và lãi trả hàng tháng. Ngày 13/02/2015 nguyên đơn đã giải ngân cho bị hợp đồng cho vay kiêm khế ước nhận nợ số: 29-HLO/2015/HĐCV với số tiền là 69.000.000 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi như hợp đồng thỏa thuận mà các bên đã ký kết. Nay, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 03/7/2022 là 146.753.573 đồng (trong đó nợ gốc là 49.425.618 đồng, nợ lãi trong hạn là 74.774.556 đồng, nợ lãi quá hạn là 22.753.399 đồng), cùng tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất của hợp đồng cho vay kiêm khế ước nhận nợ số: 29-HLO/2015/HĐCV cho đến khi thanh toán hết nợ cho nguyên đơn. Trường hợp bị đơn không thanh toán số nợ trên hoặc thanh toán không đầy đủ, nguyên đơn yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp mà các bên đã ký theo Hợp đồng thế chấp nhà ở và quyền sử dụng đất số: 01/1130354/2015/BĐ ký ngày 13/02/2015.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã tống đạt hợp lệ đối với bị đơn bà Trần Thị T, ông Nguyễn Trọng H1, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trần H2, bà Huỳnh Thị M tại nơi đăng ký thường trú: số E đường Cách mạng tháng tám, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ để tham gia phiên tòa nhưng bà T, ông H1, ông H2, bà M đều vắng mặt không lý do nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Đại diện ủy quyền của nguyên đơn: Vẫn giữ nguyên yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 24/10/2023 là 175.798.330 đồng (trong đó nợ gốc là 49.425.618 đồng, nợ lãi trong hạn là 94.238.120 đồng, nợ lãi quá hạn là 32.134.592 đồng), cùng tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất của hợp đồng cho vay kiêm khế ước nhận nợ số: 29-HLO/2015/HĐCV cho đến khi thanh toán hết nợ cho nguyên đơn. Trường hợp bị đơn không thanh toán số nợ trên hoặc thanh toán không đầy đủ, nguyên đơn yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp mà các bên đã ký theo Hợp đồng thế chấp nhà ở và quyền sử dụng đất số: 01/1130354/2015/BĐ ký ngày 13/02/2015.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Các bên tranh chấp từ khoản tiền nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng được ký kết. Bị đơn bà T, ông H1, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông H2, bà M có địa chỉ tại quận N nên Toà án nhân dân quận Ninh Kiều thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và xác định tranh chấp hợp đồng tín dụng là đúng quan hệ tranh chấp.
Vụ việc được thụ lý ngày 06/6/2022 nhưng đến ngày 24/10/2023 Tòa án mới có quyết định đưa vụ án ra xét xử là vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Theo đơn khởi kiện ngày 27/12/2021của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần H3, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Nguyễn Trọng H1, bà Trần Thị T có nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn. Tại phiên tòa: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tổng số nợ tính đến ngày 24/8/2023 cụ thể như sau:
Số tiền vốn và lãi tính đến ngày 24/10/2023 là 175.798.330 đồng (trong đó nợ gốc là 49.425.618 đồng, nợ lãi trong hạn là 94.238.120 đồng, nợ lãi quá hạn là 32.134.592 đồng), cùng tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất của hợp đồng cho vay kiêm khế ước nhận nợ số: 29-HLO/2015/HĐCV cho đến khi thanh toán hết nợ cho nguyên đơn. Trường hợp bị đơn không trả hoặc trả không đầy đủ các khoản nợ thì nguyên đơn được quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhận thấy việc vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bị đơn đã vi phạm quy định các quy định của hợp đồng tín dụng, vi phạm nghĩa vụ thanh toán do đó áp dụng Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 để điều chỉnh các thỏa thuận của các đương sự. Ngoài ra, xét hình thức các giao dịch đều được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, căn cứ vào những thỏa thuận trong các hợp đồng, giao dịch của các bên, căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền gốc và lãi suất tính đến ngày 24/10/2023 là 175.798.330 đồng (trong đó nợ gốc là 49.425.618 đồng, nợ lãi trong hạn là 94.238.120 đồng, nợ lãi quá hạn là 32.134.592 đồng), cùng tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất của hợp đồng cho vay kiêm khế ước nhận nợ số: 29-HLO/2015/HĐCV cho đến khi thanh toán hết nợ cho nguyên đơn. Trường hợp bị đơn không trả hoặc trả không đầy đủ thì nguyên đơn có quyền phát mãi tài sản thế chấp là phần đất và nhà tại số: số E đường C tháng tám, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số: 5401041044 ngày 29/5/2002 do Ủy ban nhân dân tỉnh C (cũ) cấp cấp cho ông Trần Văn C1, bà Nguyễn Thị Đ đứng tên, ngày 18/02/2003 chuyển nhượng sang cho ông Nguyễn Trọng H1 đứng tên để thu hồi nợ cho nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]: Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng Thương mại Cổ phần H3 yêu cầu bị đơn là bà Trần Thị T, ông Nguyễn Trọng H1 trả số tiền nợ vay theo hợp đồng các bên đã ký kết nên quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về tố tụng: Bị đơn bà Trần Thị T, ông Nguyễn Trọng H1, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trần H2, bà Huỳnh Thị M được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt nên Toà án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Xét hợp đồng cho vay kiêm khế ước nhận nợ số: 29-HLO/2015/HĐCV ngày 13/02/2015. Nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền là 69.000.000 đồng, lãi suất là 30,25%/năm, thời hạn vay là 60 tháng, mục đích vay là tiêu dùng cá nhân, hình thức trả nợ gốc và lãi trả hàng tháng. Ngày 13/02/2015 nguyên đơn đã giải ngân cho bị đơn hợp đồng cho vay kiêm khế ước nhận nợ số: 29-HLO/2015/HĐCV với số tiền là 69.000.000 đồng. Bị đơn có thế chấp Hợp đồng thế chấp nhà ở và quyền sử dụng đất số: 01/1130354/2015/BĐ ký ngày 13/02/2015 phần đất và nhà tại số: số E đường C tháng tám, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số số: 5401041044 ngày 29/5/2002 do Ủy ban nhân dân tỉnh C (cũ) cấp cho ông Trần Văn C1, bà Nguyễn Thị Đ đứng tên, ngày 18/02/2003 chuyển nhượng sang cho ông Nguyễn Trọng H1. Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng cho vay kiêm khế ước nhận nợ số: 29-HLO/2015/HĐCV ngày 13/02/2015 mà các bên đã ký kết. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn có trách nhiệm trả số tiền vốn và lãi tính đến ngày 24/10/2023, cụ thể như sau:
Số tiền vốn và lãi tính đến ngày 24/10/2023 là 175.798.330 đồng (trong đó nợ gốc là 49.425.618 đồng, nợ lãi trong hạn là 94.238.120 đồng, nợ lãi quá hạn là 32.134.592 đồng), cùng tiền lãi phát sinh theo hợp đồng hợp đồng cho vay kiêm khế ước nhận nợ số: 29-HLO/2015/HĐCV ngày 13/02/2015. Trong trường hợp bị đơn không trả nợ, nguyên đơn yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp nhà ở và quyền sử dụng đất số: 01/1130354/2015/BĐ ký ngày 13/02/2015.
Hội đồng xét xử xét thấy Hợp đồng được ký kết bởi người đại diện theo pháp luật của hai bên. Thỏa thuận giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng. Vì vậy hợp đồng là hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên nên các bên đều phải có nghĩa vụ thực hiện các thỏa thuận, cam kết trong hợp đồng. Ngân hàng đã thực hiện đúng các thỏa thuận tại hợp đồng. Về số tiền nợ gốc, căn cứ vào chứng từ do Ngân hàng cung cấp cũng như các chứng cứ có trong hồ sơ. Về số tiền lãi: Mức lãi suất các bên thỏa thuận theo phương thức lãi suất biến động, lãi tại thời điểm ký hợp đồng cho vay kiêm khế ước nhận nợ số: 29-HLO/2015/HĐCV ngày 13/02/2015 là 30,25%/năm, mức lãi suất được điều chỉnh cũng phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Việc bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng đã xâm phạm đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả toàn bộ các khoản nợ gốc và lãi là có cơ sở. Căn cứ Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn toàn bộ số tiền gốc và tiền lãi tính đến ngày 24/10/2023 là 175.798.330 đồng (trong đó nợ gốc là 49.425.618 đồng, nợ lãi trong hạn là 94.238.120 đồng, nợ lãi quá hạn là 32.134.592 đồng), cùng tiền lãi phát sinh theo hợp đồng cho vay kiêm khế ước nhận nợ số: 29-HLO/2015/HĐCV ngày 13/02/2015. Trong trường hợp bị đơn không trả nợ, nguyên đơn yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp nhà ở và quyền sử dụng đất số: 01/1130354/2015/BĐ ký ngày 13/02/2015.
Xét yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ của nguyên đơn: Xét Hợp đồng thế chấp nhà ở và quyền sử dụng đất số: 01/1130354/2015/BĐ ký ngày 13/02/2015 giữa bên thế chấp là bà Trần Thị T, ông Nguyễn Trọng H1. Tài sản thế chấp là phần đất và nhà tại số E đường Cách mạng tháng tám, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số số: 5401041044 ngày 29/5/2002 do Ủy ban nhân dân tỉnh C (cũ) cấp cho ông Trần Văn C1, bà Nguyễn Thị Đ đứng tên, ngày 18/02/2003 chuyển nhượng sang cho ông Nguyễn Trọng H1. Hợp đồng thế chấp được ký kết bởi người đại diện có thẩm quyền của ngân hàng. Tài sản thế chấp phần đất và nhà tại số E đường Cách mạng tháng tám, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ thuộc sở hữu hợp pháp của bà Trần Thị T, ông Nguyễn Trọng H1, các bên ký hợp đồng thế chấp trên tinh thần tự nguyện. Hợp đồng được chứng thực tại Văn phòng công chứng, Tài sản đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng C2, ngày 13/02/2015. Như vậy hợp đồng thế chấp tài sản đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về cả hình thức và nội dung hợp đồng theo quy định tại Điều 117 và Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên hợp đồng thế chấp tài sản có hiệu lực pháp luật. Buộc các bên phải thực hiện theo những điều khoản đã thỏa thuận tại hợp đồng mà các bên đã ký kết.
[4]. Về chi phí tố tụng: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu số tiền tạm ứng thẩm định là 6.154.000 đồng. Nguyên đơn đã tạm ứng và chi xong. Bị đơn có nghĩa vụ hoàn trả số tiền chi phí 6.154.000 đồng cho phía nguyên đơn.
[5]. Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 466, và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Điều 91 và Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng;
- - Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần H3 đối với bị đơn là bà Trần Thị T, ông Nguyễn Trọng H1.
Buộc bị đơn là bà Trần Thị T, ông Nguyễn Trọng H1 phải trả cho nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần H3 tổng số tiền còn nợ tính đến hết ngày 24/10/2023 là 175.798.330 đồng (một trăm bảy mươi lăm triệu bảy trăm chín mươi tám ngàn ba trăm ba chục đồng) (trong đó nợ gốc là 49.425.618 đồng, nợ lãi trong hạn là 94.238.120 đồng, nợ lãi quá hạn là 32.134.592 đồng).
Bị đơn còn phải chịu lãi phát sinh tính từ ngày 25/10/2023 cho đến khi trả hết nợ theo hợp đồng cho vay kiêm khế ước nhận nợ số: 29-HLO/2015/HĐCV ngày 13/02/2015 đã ký kết.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn thì nguyên đơn có quyền yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo để thanh toán số nợ mà bị đơn còn thiếu để thu hồi nợ là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số số: 5401041044 ngày 29/5/2002 do Ủy ban nhân dân tỉnh C (cũ) cấp cho ông Trần Văn C1, bà Nguyễn Thị Đ đứng tên, ngày 18/02/2003 chuyển nhượng sang cho ông Nguyễn Trọng H1 đứng tên (theo Hợp đồng thế chấp nhà ở và quyền sử dụng đất số: 01/1130354/2015/BĐ ký ngày 13/02/2015).
[2]. Về chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu số tiền chi phí thẩm định là 6.154.000 đồng. Nguyên đơn đã tạm ứng và chi xong. Bị đơn có nghĩa vụ hoàn trả số tiền 6.154.000 đồng cho phía nguyên đơn.
[3]. Về án phí Dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu số tiền án phí là 8.789.916 đồng (Tám triệu bảy trăm tám mươi chín ngàn chín trăm mười sáu đồng). Nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.210.600 đồng (Ba triệu hai trăm mười ngàn sáu trăm đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000528 ngày 09/5/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
[4]. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bán án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
*Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Từ Thanh Đào |
Bản án số 272/2023/DS-ST ngày 24/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 272/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng hải Việt Nam đối với bị đơn là bà Trần Thị Thúy, ông Nguyễn Trọng Hưng.
