TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI | HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nguyên Vũ
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Điệp
- Bà Trần Thanh Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngọc Thị Ngoan - Thư ký tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Bà Lưu Thị Hải Anh - Kiểm sát viên
Ngày 13 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 268/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 398/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Bùi Quang T (tên gọi khác: Vũ L), sinh ngày 01/9/1996, tại tỉnh Vĩnh LongHoồ Chí N; Nơi cư trú: Ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; chỗ ở hiện nay: Khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Quang T1, sinh năm 1970 và bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1972; Vợ: Bùi Thị V, sinh năm 1995 (đã ly hôn) và có 01 con, sinh năm 2015; Tiền án: Tại Bản án số 114/2020/HS-ST ngày 29/10/2020, T bị TAND huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Đến ngày 16/10/2021 chấp hành xong bản án; Bị cáo bị bắt giữ ngày 27/06/2023 đến ngày 06/7/2023, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Quang T là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 09 giờ ngày 25/6/2023, T đi xe ôm từ phòng trọ tại khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai đến khu vực cổng 3 chữ A thuộc thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai gặp tên Đ (không rõ lai lịch) mua 01 gói nylon chứa ma túy đá với giá 600.000 đồng mang về phòng trọ để sử dụng. Sau đó, T lấy một ít ma túy ra sử dụng, phần còn lại cho vào 01 đoạn ống hút nhựa và 01 gói nylon cất giấu trong túi quần bên trái treo trong phòng trọ. Đến 16 giờ 20 phút ngày 27/6/2023, Cơ quan công an kiểm tra phát hiện đang cất giấu ma tuý nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ số ma tuý vừa nêu.
Tang vật thu giữ: 01 gói nylon hàn kín kích thước 02x04cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng và 01 đoạn ống hút nhựa khoảng 01cm được hàn kín màu trắng (đã được niêm phong).
Tại Kết luận giám định số 1363/KL-KTHS ngày 04/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,4750gam, loại Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: 0,4436 gam.
Tại bản cáo trạng số: 251/CT.VKS-NT ngày 04/10/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Bùi Quang T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị:
- - Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Quang T từ 16 đến 20 tháng tù;
- - Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy: toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong ký hiệu số 1363/KL-KTHS ngày 04/7/2023 của Phòng K công an tỉnh Đ.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Tại phiên tòa bị cáo Bùi Quang T không tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo Bùi Quang T (sinh ngày 01/09/1996) có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thừa nhận: khoảng 09 giờ 00 phút ngày 25/6/2023, T đã có hành vi mua của 01 người tên Đ (không rõ lai lịch) 01 gói nylon chứa ma túy đá với giá 600.000 đồng tại cổng 3 chữ A thuộc thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai, sau đó mang về phòng trọ tại khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai lấy một ít ra sử dụng, phần còn lại cho vào 01 đoạn ống hút nhựa và 01 gói nylon cất giấu trong túi quần bên trái treo trong phòng trọ. Đến 16 giờ 20 phút ngày 27/6/2023, Cơ quan công an kiểm tra phát hiện đang cất giấu ma tuý nên lập biên bản quả tang.
Tại Kết luận giám định số 1363/KL-KTHS ngày 04/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: mẫu chất bột màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,4750gam, loại Methamphetamine.
Lời thừa nhận của bị cáo Bùi Quang T phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai nhân chứng và các chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Cho thấy lượng ma túy bị cáo Bùi Quang T tàng trữ theo Kết luận giám định số 1363/KL-KTHS ngày 04/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ có khối lượng: 0,4750gam, loại Methamphetamine (khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05gam) và hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Quang T đã được thực hiện xong.
Nên có đủ căn cứ kết luận: Hành vi của bị cáo Bùi Quang T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố bị cáo Bùi Quang T là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3]. Về nhân thân, tính chất mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăngnặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có 01 tiền án về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”; tiền sự: Không.
Tội phạm do bị cáo Bùi Quang T thực hiện là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy và làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương; bị cáo biết rõ việc tàng trữ để sử dụng chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì nghiện ma túy nên bị cáo vẫn thực hiện. Mặt khác bị cáo có một tiền án về tội này chưa được xóa án tích và 01 tiền sự đưa đi cai nghiện ma túy, nay lại tiếp tục phạm tội, thuộc trường hợp tái phạm do đó cần áp dụng tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xét xử nghiêm, cần thiết áp dụng hình phạt tù giam, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Quang T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để thể hiện tính nhân đạo của chính sách pháp luật hình sự.
Xét lời luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức hình phạt là phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.
[4]. Về xử lý vật chứng: 01 gói ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định có khối lượng: 0,4436 gam được niêm phong số: 1363/KL-KTHS ngày 04/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ, Bùi Quang T đã tàng trữ trái phép, cần tịch thu tiêu hủy là có căn cứ.
[5]. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Bùi Quang T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Bùi Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Bùi Quang T 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính tù ngày 27/6/2023.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu 01 gói ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định có khối lượng: 0,4436 gam được niêm phong số: 1363/KL-KTHS ngày 04/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ tiêu hủy.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Bùi Quang T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Nguyên Vũ |
Bản án số 268/2023/TLST-HS ngày 13/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 268/2023/TLST-HS
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: khoảng 09 giờ 00 phút ngày 25/6/2023, Trực đã có hành vi mua của 01 người tên Được (không rõ lai lịch) 01 gói nylon chứa ma túy đá với giá 600.000 đồng tại cổng 3 chữ A thuộc thị trấn Long Thành, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, sau đó mang về phòng trọ tại khu phố Phước Kiểng, thị trấn Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai lấy một ít ra sử dụng, phần còn lại cho vào 01 đoạn ống hút nhựa và 01 gói nylon cất giấu trong túi quần bên trái treo trong phòng trọ. Đến 16 giờ 20 phút ngày 27/6/2023, Cơ quan công an kiểm tra phát hiện đang cất giấu ma tuý nên lập biên bản quả tang. Tại Kết luận giám định số 1363/KL-KTHS ngày 04/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: mẫu chất bột màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,4750gam, loại Methamphetamine. Lời thừa nhận của bị cáo Bùi Quang Trực phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai nhân chứng và các chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Cho thấy lượng ma túy bị cáo Bùi Quang Trực tàng trữ theo Kết luận giám định số 1363/KL-KTHS ngày 04/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai có khối lượng: 0,4750gam, loại Methamphetamine (khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05gam) và hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Quang Trực đã được thực hiện xong. Nên có đủ căn cứ kết luận: Hành vi của bị cáo Bùi Quang Trực đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố bị cáo Bùi Quang Trực là có căn cứ
