Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 272/2025/DS-PT

Ngày: 09-4-– 2025

“V/v Tranh chấp thừa kế tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh

Các Thẩm phán: Ông Cao Văn Tám

Bà Bùi Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Linh Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 715/2024/TLPT-DS ngày 07 tháng 10 năm 2024 “Tranh chấp tài sản thừa kế”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2023/DS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1882/2025/QĐPT-DS ngày 27 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trương Thị Thu H, sinh năm 1968; Cư trú tại: Số F, Khóm A, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn T – Đoàn luật sư thành phố H (có mặt).

- Bị đơn:

  1. Bà Trương Thị N, sinh năm 1949; Cư trú tại: Số C, đường M, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Ông Trương Tấn K, sinh năm 1949 (đã chết năm 2014).

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông Trương Tấn K:

    1. Bà Lê Thị M, sinh năm 1954; cư trú tại: Khóm B, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
    2. Bà Trương Thị Ánh N1 (Trương Thị N1), sinh năm 1980; cư trú tại: Khóm B, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
    3. Ông Trương Thanh T1, sinh năm 1982; cư trú tại: Khóm B, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
    4. Bà Trương Thị T2, sinh năm 1983; cư trú tại: G - A, J – dong, D – gu, U, K1.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Trương Thị N, bà Lê Thị M, bà Trương Thị Ánh N1, ông Trương Thanh T1, bà Trương Thị T2: Ông Tô Văn B, sinh năm 1979; cư trú tại: Ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. Theo văn bản ủy quyền ngày 18/02/2019, ngày 27/5/2020, ngày 30/5/2020 (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Trương Thị N: Bà Nguyễn Thị H1, là Luật sư của Văn phòng Luật sư Nguyễn Thị H1, Đoàn luật sư tỉnh B (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trương Tấn M1 (chết năm 2005).

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông Trương Tấn M1:

  1. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1955 (đã chết ngày 07/6/2022).
  2. Ông Trương Thành B1, sinh năm 1979.
  3. Ông Trương Chí C, sinh năm 1982.
  4. Ông Trương Trí N2, sinh năm 1985.
  5. Bà Trương Yến D1, sinh năm 1988.

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị Đ: Ông Trương Thành B1, ông Trương Chí C, ông Trương Trí N2, bà Trương Yến D1.

Cùng cư trú tại: Ấp A, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Đ, ông Trương Thành B1, ông Trương Chí C, ông Trương Trí N2, bà Trương Yến D1: Ông Tô Văn B, sinh năm 1979; cư trú tại: Ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. Theo văn bản ủy quyền ngày 07/01/2020 (có mặt).

  1. Ông Trương Tấn H2, sinh năm 1957; cư trú tại: 299 ST.LEGER ST-KITCHENER, ONTN2H 4M6, CANADA (vắng mặt).
  2. Bà Trương Thị N3, sinh năm 1959; cư trú tại: Số C, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. Chỗ ở hiện nay: Số D, đường A, ấp C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (yêu cầu xét xử vắng mặt).
  3. Ông Trương Tấn H3, sinh năm 1964; cư trú tại: 345 WAKE ROBIN CRES – KICHENER, ONTARIO, N2E 3L5, CANADA.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Trương Tấn H3: Bà Trương Thị Thu H; cư trú tại: Số F, Khóm A, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Theo văn bản ủy quyền ngày 09/3/2023 (có mặt).

  1. Ông Trương Tấn B2, sinh năm 1966; định cư ở A không rõ địa chỉ. (Đã chết ngày 18/10/2001 âm lịch tại Khóm A, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu).
  2. Ông Huỳnh Văn T3, sinh năm 1938 (có mặt).
  3. Anh Huỳnh Minh H4, sinh năm 1983.
  4. Anh Huỳnh Xuân T4, sinh năm 1994.

Cùng cư trú tại: Số F, Khóm A, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Huỳnh Xuân T4: Bà Trịnh Như Q, sinh năm 2000; Cư trú tại: B P, Phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Theo văn bản ủy quyền ngày 24/3/2025 (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của ông Huỳnh Văn T3, anh ông Huỳnh Minh H4: Bà Trương Thị Thu H; cư trú tại: Số F, Khóm A, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Theo văn bản ủy quyền ngày 08/4/2019 (có mặt).

  1. Anh Huỳnh Hoàng M2, sinh năm 1990; cư trú tại: Số F, Khóm A, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

Người đại diện theo pháp luật của anh Huỳnh Hoàng M2: Bà Trương Thị Thu H, sinh năm 1968; cư trú tại: Số F, Khóm A, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).

  1. Ủy ban nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; địa chỉ trụ sở: Khóm A, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

Người đại diện hợp theo ủy quyền: Ông Đỗ Thanh T5, chức vụ: Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã G. Văn bản ủy quyền ngày 27/5/2020 (Xin xét xử vắng mặt).

Người kháng cáo: Do có kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 12 tháng 12 năm 2018, đơn khởi kiện bổ sung ngày 18 tháng 01 năm 2019 và quá trình giải quyết vụ án, bà Trương Thị Thu H là nguyên đơn, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của ông Huỳnh Văn T3, anh Huỳnh Xuân T4, anh Huỳnh Minh H4, anh Huỳnh Hoàng M2, ông Trương Tấn H3 trình bày:

Cha bà là cụ Trương Quốc V và mẹ là cụ Từ Thị S chung sống có 08 người con gồm bà Trương Thị N, ông Trương Tấn K, ông Trương Tấn M1, ông Trương Tấn H2, bà Trương Thị N3, ông Trương Tấn H3, ông Trương Tấn B2 và bà Trương Thị Thu H. Cụ V, cụ S không có con riêng hay con nuôi nào khác. Năm 1985, cụ V chết, năm 2012 cụ S chết. Tài sản của cha mẹ để lại gồm:

  1. Phần đất diện tích 975,8m² được Ủy ban nhân dân huyện G (nay là thị xã G) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ Từ Thị S số AQ 228333 ngày 31/7/2009, thuộc thửa số 114, tờ bản đồ 47.
  2. Phần đất diện tích 299,9m² được Ủy ban nhân dân huyện G (nay là thị xã G) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ Từ Thị S số AQ 228334 ngày 31/7/2009, thuộc thửa số 115, tờ bản đồ số 47.

Hai phần đất tọa lạc tại ấp A, thị trấn H, huyện G, tỉnh Bạc Liêu (nay là khóm A, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu). Nguồn gốc đất do bà Trương Thị N3 nhận chuyển nhượng của bà Hữu Thị G, bà Hữu Thị X, ông Từ Văn L vào năm 1992, nguồn tiền nhận chuyển nhượng đất do ông Trương Tấn H3 và ông Trương Tấn B2 ở nước ngoài gửi tiền về cho cụ Từ Thị S nhận chuyển nhượng, nhưng do cụ S ít hiểu biết, việc đi đứng làm giấy tờ khó khăn nên mẹ bà để cho bà Trương Thị N3 đứng ra giao dịch nhận chuyển nhượng đất. Hiện nay, bà H cùng chồng là ông Huỳnh Văn T3 và các con Huỳnh Hoàng M2, Huỳnh Xuân T4, Huỳnh Minh H4 đang quản lý, sử dụng 02 căn nhà trên phần đất tại thửa số 115, riêng tài sản là phòng trọ trên đất thửa số 114 là tài sản riêng của vợ chồng bà. Hiện tại trên đất tranh chấp có căn nhà trước và căn nhà sau của cụ S, còn 12 phòng trọ là do bà mới xây dựng. Đối với 26 phòng trọ cụ S để lại đã cũ và bị tháo dỡ, không còn. Ngày 26/11/2018, bà mới biết hai phần đất trên được cấp giấy chứng nhận cho bà Trương Thị N và ông Trương Tấn K theo di chúc do cụ Từ Thị S lập ngày 02/3/2011.

Nay bà yêu cầu hủy di chúc của cụ Từ Thị S lập ngày 02/3/2011, vì di chúc này không hợp pháp. Thời điểm lập di chúc cụ Từ Thị S đã 79 tuổi, còn bệnh nặng, sức khỏe yếu, tinh thần không minh mẫn, nên không thể ký và lập di chúc được. Yêu cầu hủy hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR 447004 do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 20/11/2013, thuộc thửa số 114, tờ bản đồ số 47, diện tích 975,8 m² và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR 447400 do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 20/11/2013, thuộc thửa số 115, tờ bản đồ số 47, diện tích 299,9 m². Yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với 01 căn nhà chính và 01 căn nhà sau gắn liền với phần diện tích đất qua đo đạc thực tế là 299,9 m², thửa số 115 và diện tích đất 975,8 m², thửa số 114 và đường nhựa trên phần đất có diện tích 132m². Yêu cầu tính công sức sửa chữa 02 căn nhà với số tiền 500.000.000 đồng. Các tài sản là các phòng trọ cho thuê trên phần đất thuộc thửa số 114 là tài sản của vợ chồng bà, nên không yêu cầu chia. Ông T3, anh T4, anh H4, anh M2 thống nhất với yêu cầu của bà. Ngày 12 tháng 9 năm 2019, bà H có đơn xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện yêu cầu chia thừa kế đối với diện tích 55,3m² thuộc thửa 114, tờ bản đồ 47, đất tọa lạc Khóm A, Phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu do đo đạc thực tế diện tích nhỏ hơn so với đơn khởi kiện.

Ông Tô Văn B là người đại diện theo ủy quyền của bà Trương Thị N, bà Lê Thị M, ông Trương Thanh T1, bà Trương Thị Ánh N1, bà Trương Thị T2, ông Trương Thành B1, ông Trương Chí C, ông Trương Trí N2, bà Trương Yến D1 trình bày:

Theo trình bày của bà Trương Thị Thu H về mối quan hệ gia đình, về huyết thống là đúng. Tuy nhiên, toàn bộ tài sản là của cụ Từ Thị S và trước khi chết, cụ S đã lập di chúc để lại tài sản cho bà Trương Thị N và ông Trương Tấn K 02 phần đất nêu trên cùng toàn bộ tài sản trên đất. Bà N4 và ông K đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với 02 phần đất này, cụ thể Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR 447004 do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 20/11/2013, thửa số 114, tờ bản đồ số 47, diện tích 975,8 m² và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR 447400 do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 20/11/2013, thửa số 115, tờ bản đồ số 47, diện tích 299,9 m². Do bà H chung sống với cụ S nên sau khi cụ S chết, bà H tiếp tục quản lý, sử dụng toàn bộ tài sản tranh chấp cho đến nay. Hiện tại trên đất tranh chấp có căn nhà trước và nhà sau cùng 14 phòng trọ trên đất. Ngoài ra, không còn tài sản nào khác. Tài sản trên đất là do cụ S để lại, 14 phòng trọ còn lại không phải của bà H xây dựng.

Nay bà N4 và các con ông K không đồng ý với yêu cầu của bà H. Ngày 02 tháng 8 năm 2019, bà Trương Thị N có đơn yêu cầu phản tố yêu cầu Tòa án công nhận di chúc của cụ Từ Thị S lập ngày 02/3/2011 là hợp pháp, buộc vợ chồng ông Huỳnh Văn T3 và bà Trương Thị Thu H có trách nhiệm giao lại phần đất qua đo đạc thực tế có diện tích 299,9m², thửa số 115; diện tích 920,5m², thửa số 114 và phần đất có diện tích 39,2m² cùng tài sản gắn liền với đất (trừ các vật dụng trong nhà không yêu cầu trả). Đồng thời, bà N yêu cầu ông T3 và bà H có trách nhiệm hoàn trả cho bà tiền cho thuê 14 phòng trọ mà ông T3, bà H quản lý từ ngày di chúc có hiệu lực là ngày 11/3/2012 đến ngày xét xử là 136 tháng, mỗi tháng là 400.000 đồng/phòng = 761.000.000 đồng. Bà M, ông T1, bà N1, bà T2 thống nhất với yêu cầu phản tố của bà N, thống nhất giao toàn bộ di sản cho bà N quản lý, sử dụng và không yêu cầu gì khác. Bà Đ, ông B1, ông C, ông N2, bà D1 thống nhất với tờ di chúc ngày 02/3/2011, không yêu cầu gì trong vụ án này. Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn thì bà M, ông T1, bà N1, bà Đ, ông B1, ông C, ông N2, bà D1 yêu cầu nhận hiện vật và thống nhất cho bà N, đồng ý trả lại giá trị kỷ phần của bà H và các đồng thừa kế khác theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Tấn H3 trình bày theo văn bản ngày 09/3/2023:

Thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về cha mẹ, hàng thừa kế và yêu cầu của bà H, nếu được chia kỷ phần thừa kế thì ông đồng ý giao kỷ phần thừa kế của ông cho bà H quản lý, sử dụng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn lại mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, triệu tập tham gia tố tụng và xét xử nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do, nên không có ý kiến trình bày.

- Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2023/DS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu, quyết định:

  1. Không chấp nhận yêu cầu của bà Trương Thị Thu H về việc yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Từ Thị S.
  2. Chấp nhận yêu cầu của bà Trương Thị N về việc công nhận di chúc của cụ Từ Thị S lập ngày 02/3/2011 là hợp pháp.
  3. Công nhận Tờ di chúc của cụ Từ Thị S lập ngày 02/3/2011, có chứng thực của Ủy ban nhân dân thị trấn H ngày 10/5/2011 là hợp pháp.

Buộc Bà Trương Thị Thu H, ông Huỳnh Văn T3, anh Huỳnh Xuân T4, anh Huỳnh Minh H4, anh Huỳnh Hoàng M2 giao trả phần đất và tài sản, cây cối trên đất cho bà Trương Thị N và hàng thừa kế của ông Trương Văn K2 gồm (Bà Lê Thị M, bà Trương Thị Ánh N1, ông Trương Thanh T1, bà Trương Thị T2), cụ thể như sau:

  • + Phần thứ nhất, thửa số 115: Diện tích 299,9m².
  • Hướng Đông giáp đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có số đo 22,79m + 7,21m;
  • Hướng Tây giáp thửa 114, có số đo 30,01m;
  • Hướng Nam giáp thửa 114, có số đo 10,00m;
  • Hướng Bắc giáp thửa 114 có số đo 9,99m;
  • + Phần thứ hai, thửa số 114: Diện tích 920,5m².
  • Hướng Đông giáp thửa 115, giáp đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có số đo 5,43m + 30,01m + 8,17m.
  • Hướng Tây giáp đất bà Hữu Thị T6, có số đo 28,31m + 10,85m + 4,00m;
  • Hướng Nam giáp đất ông Trần Ngọc T7, Trương Thị Thu H, T, Hữu G1 có số đo 8,19m + 9,5m + 3,76m;
  • Hướng Bắc giáp Q có số đo 21,5m;
  • + Phần thứ 3 (ngoài giấy chứng nhận): Diện tích 39,2m².
  • Hướng Đông giấp đất ông Tô Văn S1, có số đo 13,18m + 30,43m;
  • Hướng Tây giá thửa 114, 115, có số đo 5,43m + 22,79m + 7,21m + 8,17m;
  • Hướng Nam giáp thửa 273, có số đo 0,84m;
  • Hướng Bắc giáp đất quy hoạch lộ giới, có số đo 0,48.

Hiện trạng trên đất có các tài sản sau:

  • Căn nhà chính: Loại nhà cấp 4, kết cấu mái tol xi măng, không đóng trần xà gỗ, nhóm 4, nền lót gạch bông, tường xây, cột gỗ. Diện tích 14,6m x 3,7m + 9,9m x9m = 54,02m + 89,1m = 143,12m².
  • Căn nhà sau: Loại nhà cấp 4, kết cấu bê tông cốt thép, vách tường, gạch bê tông cốt thép, nền gạch men mái bê tông. Diện tích 106,26m². Trong nhà sau có phân ra một phần nhà sử dụng và 02 phòng trọ cho thuê.
  • Căn nhà tạm (nhà I) là 01 phòng trọ, kết cấu cột gỗ mái tol, xi măng (không đóng trần), xà gỗ nhóm 4, vách tol, nền láng xi măng. Diện tích 15,4m x 4,2m = 64,68m².
  • Căn nhà cấp 4 (nhà II) gồm 03 phòng trọ và 03 phòng vệ sinh nằm liền kề nhau, có kết cấu mái tol, xà gỗ nhóm 4, vách xây tường, bê tông cốt thép, nền lót gạch men, có phòng vệ sinh trong, có diện tích 67,2m².
  • Căn nhà cấp 4 (nhà III) gồm 04 phòng trọ, kết cấu mái tol, xà gỗ nhớm 4, vách xây tường, bê tông cốt thép, nền lót gạch men có phòng vệ sinh trong, tổng diện tích là 107,5m².
  • Căn nhà tạm (nhà IV) gồm 04 phòng trọ, có kết cấu cột gỗ, mái tol, xi măng (không đóng trần), xà gỗ nhóm 4, vách tol, nền láng xi măng, diện tích 103,7m².
  • Sân láng xi măng diện tích 517.842m².
  • Đường nhựa diện tích 132m².
  • Cây trồng trên đất gồm: 01 cây xoài, 01 cây mận, 02 cây cau kiểng, 01 cây thanh long.
  1. Không chấp nhận yêu cầu của bà Trương Thị Thu H về việc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR 447004 do UBND huyện G cấp cho ông Trương Tấn K, bà Trương Thị N ngày 20/11/2013, thửa 114, tờ bản đồ số 47, diện tích 975,8 m², đất tọa lạc tại Khóm A, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR 447400 do UBND huyện G cấp cho ông Trương Tấn K, bà Trương Thị N ngày 20/11/2013, thửa 115, tờ bản đồ số 47, diện tích 290,5 m², đất tọa lạc tại Khóm A, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
  2. Không chấp nhận yêu cầu của bà Trương Thị Thu H về việc yêu cầu bà Trương Thị N hoàn trả tiền chi phí sửa chữa 02 căn nhà số tiền 500.000.000 đồng.
  3. Không chấp nhận yêu cầu của bà Trương Thị N về việc yêu cầu bà Trương Thị Thu H và ông Huỳnh Văn T3 hoàn trả tiền cho thuê 14 phòng trọ kể từ ngày 11/3/2012 đến ngày xét xử (ngày 19/7/2023) với số tiền là 761.600.000 đồng.
  4. Ghi nhận sự tự nguyện của người đại diện theo ủy quyền của bà Trương Thị N hỗ trợ cho bà H di dời chỗ ở số tiền 70.000.000 đồng. Buộc bà Trương Thị N có nghĩa vụ hỗ trợ chi phí di dời nhà ở cho vợ chồng bà Trương Thị Thu H và ông Huỳnh Văn T3 số tiền 70.000.000 đồng.
  5. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của bà Trương Thị Thu H về việc yêu cầu chia di sản thừa của bà Từ Thị S đối với diện tích đất 55,3m² thuộc một phần thửa số 114, tờ bản đồ 47, đất tọa lạc Khóm A, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xem xét, thẩm định và định giá tài sản, uỷ thác tư pháp, án phí, việc thi hành án và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

* Sau khi xét xử sơ thẩm:

  • Ngày 03 tháng 8 năm 2023, bà Trương Thị N có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm buộc bà Trương Thị Thu H, ông Huỳnh Văn T3, ông Huỳnh Xuân T4, ông Huỳnh Hoàng H5 và ông Huỳnh Hoàng M2 có trách nhiệm liên đới giao trả cho bà N và ông K tiền cho thuê 14 phòng trọ với số tiền 761.600.000 đồng.
  • Ngày 04 tháng 8 năm 2023, bà Trương Thị Thu H có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm yêu cầu hủy di chúc ngày 02/3/2011 của bà Từ Thị S; hủy hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR 447004 do UBND huyện G cấp cho ông Trương Tấn K; bà Trương Thị N ngày 20/11/2013, thửa 114, tờ bản đồ số 47, diện tích 975,8m² và giấy chúng nhận quyền sử dụng đất số BR 447400 do UBND huyện G cấp cho ông Trương Tấn K ngày 20/11/2013, thửa 115, tờ bản đồ số 47, diện tích 290,5 m² đất tọa lạc tại Khóm A, phường hộ phòng, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật phần đất liên quan đến 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này.
  • Ngày 10/8/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu ban hành quyết định số kháng nghị số 04/QĐ-VKS-DS kháng nghị một phần Bản án sơ thẩm. Đề nghị cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Nguyên đơn đề nghị hủy di chúc của bà S, hủy giấy chứng nhận đã cấp cho ông K, bà N. Sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận kháng cáo và yêu cầu khởi kiện.
  • Người bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn để nghị xem xét di chúc viết tay không có người làm chứng, sức bà S lúc đó yếu nhưng cấp sơ thẩm không giám định chữ ký bà S, không đưa ông T8 ký chứng thực di chúc tham gia tố tụng là người làm chứng, hồ sơ cấp giấy chứng nhận cho bà N không có biên bản khai nhận thừa kế. Đề nghị cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm.
  • Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn, buộc nguyên đơn phải thanh toán trả tiền thuê nhà 761.600.000 đồng.
  • Người bảo vệ quyền lợi cho bị đơn đề nghị: Xác định tài sản của bà S được cấp giấy chứng nhận năm 2009. Khi còn sống bà S đã lập di chúc đánh máy lại bằng giấy A4 có 2 trang được chính quyền thị thực ngày 10/5/2011. Việc giám định chữ ký trong di chúc thì ở sơ thẩm bà H không có yêu cầu và xác nhận di chúc do bà S lập (BL 555). Bà H có quá trình quản lý sử dụng nhà ở, nhà trọ do bà S xây dựng, khi tòa sơ thẩm xem xét thẩm định không có thay đổi gì, định giá tài sản ghi còn 20% giá trị là phù hợp thực tế, nếu bà H xây dựng mới thì giá trị % phải cao hơn 20% khi định giá tài sản. Bà H thừa nhận có thu tiền cho thuê phòng trọ . Do đó, có căn cứ đề nghị tòa án chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn về việc yêu càu bà H thanh toán trả tiền cho thuê phòng trọ 761.900.000 đồng. Bác yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định kháng nghị, đề nghị Tòa án bác kháng cáo của của bị đơn, chấp nhận kháng nghị, sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Cấp sơ thẩm đáng lẽ phải đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của bà N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Bà Trương Thị N, bà Trương Thị Thu H, ông Huỳnh Văn T3 có đơn kháng cáo; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu kháng nghị trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung khởi kiện và yêu cầu kháng cáo, kháng nghị:

Các đương sự thống nhất xác định cụ Trương Quốc V và cụ Từ Thị S có 08 người con chung gồm: Bà Trương Thị N, ông Trương Tấn K (ông K chết năm 2014, có vợ là bà Lê Thị M và các con gồm Trương Thị Ánh N1, Trương Thanh T1, bà Trương Thị T2), ông Trương Tấn M1 (ông M1 chết năm 2005, có vợ là bà Nguyễn Thị Đ và các con gồm Trương Thành B1, Trương Chí C, Trương Trí N2, Trương Yến D1), ông Trương Tấn H2, bà Trương Thị N3, ông Trương Tấn H3, ông Trương Tấn B2 và bà Trương Thị Thu H.

Cụ Trương Quốc V chết năm 1985, cụ Từ Thị S chết năm 2012, các tài sản có yêu cầu chia thừa kế được các đồng thừa kế thống nhất xác định năm 1992 ông Trương Tấn H3 và ông Trương Tấn B2 là con cụ S gửi tiền cho cụ S nhận chuyển nhượng 02 thửa đất và xây dựng nhà ở cho cụ S, tiền gửi thông qua bà Trương Thị N3 nhận và nhận chuyển nhượng đất từ bà Hữu Thị G, bà Hữu Thị X, ông Từ Văn L, sau đó bà N3 chuyển giao quyền sử dụng đất lại cho cụ S đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Về tài sản 02 thửa đất và nhà ở trên đất các đương sự thống nhất là của cụ S. Cụ V chết trước khi có các khối tài sản này, nên tài sản trên là của bà Từ Thị S.

[2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Từ Thị S theo pháp luật, bị đơn là bà N phản tố yêu cầu chia tài sản thừa kế theo di chúc.

Xét di chúc ngày 02/3/2011 của cụ Từ Thị S:

Di chúc của cụ Từ Thị S lập ngày 02/3/2011, được ông Trương T8 là Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn H chứng thực vào ngày 10/5/2015 và ký đóng dấu chứng thực ngày 11/5/2011. Di chúc bản chính được đánh máy trên 01 tờ giấy in 02 mặt, phía sau có chữ ký của cụ S. Theo Biên bản xác minh ngày 18/7/2022, ông Trương T8 là Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn H xác định ông không rõ ai là người lập di chúc, ông cũng không có hỏi cụ S, cụ S đem tờ di chúc ra gặp ông để xác nhận, ông có hỏi lại ý chí của cụ S thì được biết cụ S làm di chúc để lại cho bà Trương Thị N và ông Trương Tấn K 02 phần đất thửa 114 và 115; cụ S không cung cấp giấy tờ thể hiện tình trạng sức khỏe của cụ S, nhưng qua quá trình tiếp xúc nói chuyện với cụ S thì ông nhận thấy cụ S vẫn minh mẫn, sáng suốt, không thấy có biểu hiện không đủ hoặc bị hạn chế năng lực hành vi. Ông nhớ cụ S đem Tờ di chúc đến nhờ ông xác nhận là vào buổi chiều, ông có đọc lại Tờ di chúc và nghe cụ S trình bày ý chí về nội dung Tờ di chúc, rồi mới cho cụ S ký tên vào Tờ di chúc trước mặt ông, hôm sau địa chính xã kiểm tra đúng thông tin về quyền sử dụng đất thì ông ký tên chứng thực vào Tờ di chúc.

Như vậy, di chúc cụ S nhờ người soạn trước nhưng chưa ký, khi cụ S mang ra ủy ban gặp ông Trương T8 là phó chủ tịch để xin xác nhận, ông T8 đã đọc lại toàn bộ nội dung di chúc, hỏi lại ý chí của cụ S có đúng như nội dung di chúc không, cụ S xác nhận đúng và ký tên trước mặt ông T8, sau đó ông T8 đã chuyển cho bộ phận địa chính kiểm tra lại thông tin về 2 thửa đất trong di chúc có đúng của cụ S thì hôm sau (ngày 11/5/2011) ông T8 ký chứng thực là đúng trình tự thủ tục của Ủy ban nhân dân thị trấn H. Do đó, cấp sơ thẩm xác định di chúc cụ S được xác nhận chứng thực khi cụ vẫn còn minh mẫn, người lập di chúc ký tên trước mặt người có thẩm quyền chứng thực là đúng theo quy định tại a khoản 1 Điều 652 khoản 4 Điều 650, Điều 657, Điều 658 Bộ luật Dân sự năm 2005. Di chúc này là hợp pháp nên được thực hiện theo di chúc. Do đó, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà Trương Thị Thu H về việc chia thừa kế di sản cụ S theo quy định pháp luật.

Cũng theo di chúc này nêu thì khi cụ S còn sống đã nhờ con gái là bà H đứng tên dùm để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nay tôi quyết định cho luôn con gái tôi tên H làm chủ vĩnh viễn, chỉ được thừa hưởng trong phạm vi miếng sau hậu nhà tôi, ngoài ra không được hưởng thêm phần đất nào khác. Như vậy, bà H cũng đã có quyền lợi của mẹ đẻ cho hưởng tài sản.

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu kháng nghị với lý do chữ ký của cụ S không được đánh số trang, không có chữ ký trang đầu, văn bản chứng thực ngày 10/5/2011 nhưng ngày 11/5/2011 người có thẩm quyền mới ký, để cho rằng di chúc không hợp pháp là không có cơ sở, bởi lẽ: di chúc có 2 trang nhưng in cả hai mặt trên một tờ giấy, không phải 2 tờ giấy mỗi tờ 1 trang nên việc cụ S không ký trang đầu có thể do người chứng thực không yêu cầu vì cụ S ký trước mặt ông T8 phó chủ tịch sau khi đã được nghe đọc lại toàn bộ di chúc và hỏi ý chí của cụ S, nên không thể có giả thiết thay nội dung trang đầu được. Về chữ ký của người có thẩm quyền xác nhận thì do cụ S mang di chúc ra Ủy ban chiều ngày 10/5/2011 thì ông T8 phó chủ tịch đã làm các thủ tục kiểm tra và cho cụ S ký để chứng thực, nhưng còn phải chuyển cho bộ phận địa chính kiểm tra có đúng đất của cụ S không, nên ngày hôm sau người có thẩm quyền mới ký và đóng dấu là hoàn toàn khách quan, đúng quy trình.

[2.2] Xét yêu cầu của bà Trương Thị Thu H yêu cầu xem xét chi phí vợ chồng bà đã sửa chữa căn nhà nhiều lần với tổng chi phí là 500.000.000 đồng. Các đương sự thống nhất xác định năm 1994, các con cụ S họp thống nhất cho vợ chồng bà H về ở chung với cụ S để tiện chăm sóc cụ S tuổi già, từ đó vợ chồng bà H về ở chung với bà S. Bà H xác định quá trình chung sống sử dụng căn nhà đến nay bà có sữa chữa nhiều lần với tổng chi phí 500.000.000 đồng nhưng bà H không đưa ra được tài liệu, chứng từ việc sửa chữa căn nhà; mặt khác theo kết quả định giá tài sản là 02 căn nhà còn giá trị sử dụng 20%, nhà trước có giá 72.790.832 đồng, nhà sau có già 117.119.772 đồng, cả 02 căn nhà có giá chưa tới 200 triệu; ông B xác định căn nhà vẫn còn hiện trạng như cũ, không có sửa chữa mới là phù hợp với biên bản định giá; nên cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bà H là đúng.

[2.3] Xét yêu cầu của bà N về việc yêu cầu bà H, ông T3 hoàn trả tiền cho thuê phòng trọ: Theo kết quả đo đạc thực tế thể hiện trên đất có 14 phòng trọ. Nguyên đơn bà H xác định 26 phòng trọ thể hiện trong di chúc cụ S hiện nay đã hư hỏng, không còn; còn 14 phòng trọ hiện nay là do vợ chồng bà H xây dựng mới. Ông B thì xác định theo Tờ di chúc của cụ S thể hiện có 26 phòng trọ, nhưng nay theo thẩm định thực tế chỉ còn 14 phòng trọ, các phòng trọ này là của cụ S xây dựng lúc còn sống.

Đối với các phòng trọ các đương sự thống nhất xác định khi bà S còn sống bà S đã xây dựng 26 phòng trọ để cho thuê; bà H xác định 26 phòng trọ đã hư hỏng và bà đã xây dựng mới 14 phòng trọ, nhưng bà H không có chứng cứ chứng minh. Xét thấy, cụ S chết năm 2012, Biên bản xem xét thẩm định tài sản năm 2019 là cách 07 năm, với thời gian này thì không thể hư hỏng toàn bộ 26 phòng trọ như bà H trình bày, nên có cơ sở xác định các phòng trọ còn lại 14 phòng là do bà S xây dựng và giá trị còn lại 20% như biên bản định giá tài sản là phù hợp thực tế.

Bà N4 yêu cầu ông T3 và bà H có trách nhiệm hoàn trả cho bà tiền cho thuê 14 phòng trọ mà ông T3, bà H quản lý từ ngày di chúc có hiệu lực là ngày 11/3/2012 đến ngày xét xử (ngày 19/7/2023) = 136 tháng với mỗi tháng 400.000 đồng/01 phòng = 761.600.000 đồng. Xét thấy, bị đơn có yêu cầu hoàn trả tiền thu nhập từ việc cho thuê phòng trọ, nhưng bị đơn không có chứng cứ chứng minh cụ thể có thu nhập từ việc cho thuê phòng trọ; phía nguyên đơn bà H không thừa nhận có thu nhập từ việc cho thuê phòng trọ với số tiền như trên. Mặt khác, bà H còn xác định việc cho thuê phòng trọ thời gia qua lúc có, lúc không, khách thuê rất ít chỉ đủ cho chi phí sửa chữa và chi phí cho việc thờ cúng cha mẹ; nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu phản tố của bà N4 về việc yêu cầu bà H, ông T3 hoàn trả số tiền từ việc cho thuê phòng trọ nêu trên.

Theo nội dung di chúc và trình bày của bà H, ông B xác định vợ chồng bà H còn có phần đất phía sau hậu phần đất tranh chấp, có diện tích 642m², phần đất này tiếp giáp với đường công cộng, nên có đủ điều kiện để gia đình bà H xây dựng nhà để ở. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông B đại diện cho bà N4 tự nguyện hỗ trợ bà H di dời đi nơi khác số tiền 70.000.000 đồng. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của bị đơn không trái pháp luật, nên được chấp nhận.

[2.3] Xét yêu cầu hủy hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR 447004 do UBND huyện G cấp ngày 20/11/2013, thửa 114, tờ bản đồ số 47, diện tích 975,8 m² và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR 447400 do UBND huyện G cấp ngày 20/11/2013, thửa 115, tờ bản đồ số 47, diện tích 299,9 m². Di chúc của bà S là hợp pháp, việc Ủy ban nhân dân huyện G (nay là thị xã G) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cho bà Trương Thị N, ông Trương Tấn K là đúng quy định pháp luật, nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu này của bà H.

[3] Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, bà Trương Thị Thu H yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với diện tích đất 55,3m² thuộc thửa 114, tờ bản đồ số 47 do đo đạc thực tế diện tích nhỏ hơn đơn yêu cầu khởi kiện; nên cấp sơ thẩm chấp nhận việc rút một phần yêu cầu của bà, đình chỉ xét xử đối với diện tích đất 55,3m² là phù hợp quy định pháp luật.

Tại cấp phúc thẩm nguyên đơn, bị đơn không đưa ra được chứng cứ mới làm thay đổi nội dung nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà N, bà H và yêu cầu kháng nghị của viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu. Giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

[4] Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Về án phí: Bà Trương Thị Thu H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; Ông Huỳnh Văn T3, bà Trương Thị N là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí, nên được miễn án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Bà Trương Thị Thu H, bà Trương Thị N, ông Huỳnh Văn T3.
  2. Không chấp nhận kháng nghị số 04/QĐ-VKS-DS ngày 10/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
  3. Giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2023/DS-ST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
  4. Án phí phúc thẩm: Bà Trương Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí phúc thẩm, được trừ vào tạm ứng đã nộp tại biên lai thu tiền số 0000476 ngày 04/8/2023 của Cục thi hành án tỉnh Bạc Liêu.
  5. Án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án là ngày 09/4/2025.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND tỉnh Bạc Liêu;
  • - Cục THADS tỉnh Bạc Liêu;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: HC, VP, 17bTTLH.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 272/2025/DS-PT ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp thừa kế tài sản

  • Số bản án: 272/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger