|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 272/2024/DS-ST
Ngày: 19-8-2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng,
hợp đồng thế chấp tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Lan.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Hữu Tấn và bà Hồ Thị Kim Liên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều D - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 124/2024/TLST-DS ngày 06 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 472/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 459/2024/QĐST-DS ngày 26 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần K1,
Trụ sở: số F phố Q, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội;
Đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Hùng A; chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị;
Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Nhật Q; chức vụ: Giám đốc xử lý nợ;
Đại diện theo ủy quyền lại:
- Ông Lê Thanh T; chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ; (Có mặt)
- Nguyễn Quốc K; chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ; (Vắng mặt)
- Phạm Duy H; chức vụ: Trưởng phòng xử lý nợ; (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Gian hàng P, tầng lửng, Toà nhà T, số I N, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên hệ: Tầng D, số D, đường C, phường A, quận N, Thành phố Cần Thơ.
2. Bị đơn: Ông Lê Bảo L, sinh năm 1972, (Vắng mặt)
Cư trú: Số F, khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần K2, (Có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Tầng D, Trung tâm thương mại V, A X Hà Nội, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 09/3/2021, Ngân hàng thương mại cổ phần K1 (gọi tắt là Ngân hàng) và ông Lê Bảo L có ký Hợp đồng tín dụng số TCU202112774/HĐTD với số tiền vay là 1.870.354.024đ; Mục đích vay vốn: thanh toán tiền mua bất động sản tại dự án khu dân cư và công viên P; Thời hạn vay 420 tháng, lãi suất vay được quy định tại Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ. Ngân hàng đã giải ngân cho ông Lê Bảo L bằng các Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ sau:
- Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số TCU202112774/01 ngày 09/3/2021 với số tiền 818.279.885đ, thời hạn vay 420 tháng, lãi suất: giai đoạn 1: áp dụng lãi suất cố định là 8,08%/năm từ ngày 09/3/2021 đến ngày 20/01/2023, giai đoạn 2: áp dụng lãi suất cố định là 8,08%/năm trong thời gian từ sau ngày kết thúc giai đoạn 1 đến hết 24 tháng kể từ ngày nhận nợ; giai đoạn còn lại áp dụng lãi suất thả nổi.
- Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số TCU202112774/02 ngày 04/5/2022 với số tiền 1.052.074.139đ, thời hạn vay 420 tháng, lãi suất: giai đoạn 1: áp dụng lãi suất cố định là 7%/năm từ ngày 04/5/2022 đến ngày 20/01/2023, giai đoạn 2: áp dụng lãi suất cố định là 7%/năm trong thời gian từ sau ngày kết thúc giai đoạn 1 đến hết 12 tháng kể từ ngày nhận nợ; giai đoạn còn lại áp dụng lãi suất thả nổi.
Tài sản bảo đảm: Căn hộ số 9.17 tại tầng 9 thuộc Tòa nhà S (26T2), diện tích 33,6 m² tại lô đất A3 (I.3) tạo lạc tại phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo Hợp đồng thế chấp số TCU202112774/HDTC ngày 11/3/2021, được ký kết giữa Ngân hàng với ông Lê Bảo L và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Đà Nẵng ngày 15/3/2021. Đến thời điểm hiện tại thì căn hộ này vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Lê Bảo L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo như cam kết trong hợp đồng tín dụng.
Tạm tính đến ngày 05/01/2024, ông Lê Bảo L còn nợ Ngân hàng tổng số tiền 2.072.371.017đ (trong đó: nợ gốc: 1.870.354.024đ, nợ lãi: 202.016.993đ).
Nay Ngân hàng thương mại cổ phần K1 yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc ông Lê Bảo L thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần K1 với tổng số tiền: 2.072.371.017đ (trong đó: nợ gốc: 1.870.354.024đ, nợ lãi tạm tính đến ngày 05/01/2024: 202.016.993đ) và nợ lãi phát sinh theo mức lãi suất thoả thuận tại hợp đồng tín dụng kể từ ngày 06/01/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ.
- Trường hợp ông Lê Bảo L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng thương mại cổ phần K1 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp số TCU202112774/HDTC ngày 11/3/2021, được ký kết giữa ông Lê Bảo L với Ngân hàng thương mại cổ phần K1 để thu hồi nợ.
- Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Lê Bảo L đối với Ngân hàng thương mại cổ phần K1. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Lê Bảo L vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần K1.
Bị đơn: Ông Lê Bảo L không có văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; không tham dự phiên tòa do Tòa án triệu tập.
Tại phiên tòa:
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Tính đến ngày 19/8/2024 ông Lê Bảo L còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 2.201.897.609đ (trong đó nợ gốc: 1.870.354.024đ, nợ lãi: 331.543.585đ). Ngân hàng yêu cầu ông L phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền trên và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 20/8/2024 cho đến ngày ông L thực hiện trả hết nợ cho Ngân hàng theo mức lãi suất quá hạn được quy định tại Hợp đồng tín dụng số TCU202112774/HĐTD ngày 09/3/2021 gồm Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số TCU202112774/01 ngày 09/3/2021 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số TCU202112774/02 ngày 04/5/2022. Đồng thời yêu cầu tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp số TCU202112774/HDTC ngày 11/3/2021 được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần K1 với ông Lê Bảo L để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ Điều 5, Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 7, Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần K1. Buộc ông Lê Bảo L có nghĩa vụ thanh toán đối với số tiền gốc chưa thanh toán và tiền lãi phát sinh cho Ngân hàng thương mại cổ phần K1 theo Hợp đồng tín dụng số TCU202112774/HĐTD ngày 09/3/2021 cho đến khi thanh toán hết số nợ đã vay cho Ngân hàng.
Trường hợp ông L không trả được nợ hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số TCU202112774/HDTC ngày 11/3/2021 được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần K1 với ông Lê Bảo L để thu hồi nợ vay.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần K1 (gọi tắt là Ngân hàng) khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Lê Bảo L trả tiền vốn vay và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết, yêu cầu duy trì hợp đồng thế chấp để đảm bảo cho việc thi hành án. Bị đơn ông Lê Bảo L cư trú tại thành phố L, tỉnh An Giang. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng:
[2.1] Ông Lê Bảo L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không tham gia phiên tòa, Công ty cổ phần K2 có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt ông L và Công ty cổ phần K2.
[2.2] Ngân hàng thương mại cổ phần K1 do ông Hồ Hùng A; Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật ủy quyền cho ông Trần Nhật Q; Chức vụ: Giám đốc xử lý nợ (Theo Quyết định ủy quyền số 0221/2023/QĐ-HĐQT ngày 31/3/2023). Ông Trần Nhật Q uỷ quyền lại cho Lê Thanh T, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ; ông Nguyễn Quốc K, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ và ông Phạm Duy H, chức vụ: Trưởng phòng xử lý nợ (Theo Giấy ủy quyền số 0101-02/GUQ-TCB ngày 22/01/2024). Thủ tục ủy quyền này phù hợp với quy định pháp luật nên ông T, ông K và ông H tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn theo quy định tại các Điều 85, Điều 86 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Ngân hàng thương mại cổ phần K1 với ông Lê Bảo L đã ký kết Hợp đồng tín dụng số TCU202112774/HĐTD ngày 09/3/2021 với mục đích thanh toán tiền mua bất động sản tại dự án khu dân cư và công viên P gồm các Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ sau: Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số TCU202112774/01 ngày 09/3/2021 với số tiền vay 818.279.885đ, thời hạn vay 420 tháng, lãi suất: giai đoạn 1: áp dụng lãi suất cố định là 8,08%/năm từ ngày 09/3/2021 đến ngày 20/01/2023, giai đoạn 2: áp dụng lãi suất cố định là 8,08%/năm trong thời gian từ sau ngày kết thúc giai đoạn 1 đến hết 24 tháng kể từ ngày nhận nợ; giai đoạn còn lại áp dụng lãi suất thả nổi; Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số TCU202112774/02 ngày 04/5/2022 với số tiền vay 1.052.074.139đ, thời hạn vay 420 tháng, lãi suất: giai đoạn 1: áp dụng lãi suất cố định là 7%/năm từ ngày 04/5/2022 đến ngày 20/01/2023, giai đoạn 2: áp dụng lãi suất cố định là 7%/năm trong thời gian từ sau ngày kết thúc giai đoạn 1 đến hết 12 tháng kể từ ngày nhận nợ; giai đoạn còn lại áp dụng lãi suất thả nổi.
[3.2] Sau khi ký hợp đồng tín dụng, ông Lê Bảo L đã thanh toán cho Ngân hàng được tổng số tiền lãi là 175.858.545đ thì ngưng. Ngân hàng yêu cầu ông L có trách nhiệm thanh toán vốn, lãi tính đến ngày 19/8/2024 là 2.201.897.609đ (trong đó nợ gốc: 1.870.354.024đ, nợ lãi: 331.543.585đ) và tiền lãi tiếp tục phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký giữa ông L với Ngân hàng.
[3.3] Hội đồng xét xử xét, Hợp đồng tín dụng số TCU202112774/HĐTD ngày 09/3/2021 giữa Ngân hàng và ông Lê Bảo L được xác lập trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật nên các hợp đồng này có giá trị pháp lý. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, phía ông L đã không thực hiện nghĩa vụ trả vốn, lãi suất đúng hạn là vi phạm nghĩa vụ của bên vay. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông L có trách nhiệm thanh toán vốn, lãi tạm tính đến ngày 19/8/2024 là 2.201.897.609đ (trong đó nợ gốc: 1.870.354.024đ, nợ lãi: 331.543.585đ) và tiền lãi tiếp tục phát sinh theo các hợp đồng tín dụng đã ký là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Ngoài ra, do ông L vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên phải có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ gốc với Ngân hàng là phù hợp quy định pháp luật.
[3.4] Đối với yêu cầu duy trì Hợp đồng thế chấp số TCU202112774/HDTC ngày 11/3/2021 của Ngân hàng thì thấy: Hợp đồng tín dụng số TCU202112774/HĐTD ngày 09/3/2021 được bảo đảm bởi Hợp đồng thế chấp số TCU202112774/HDTC ngày 11/3/2021, đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Đà Nẵng ngày 15/3/2021. Xét thấy, hợp đồng thế chấp trên phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.5] Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc ông Lê Bảo L có trách nhiệm trả cho Ngân hàng tổng số tiền là 2.201.897.609đ, trong đó vốn: 1.870.354.024đ, lãi tạm tính đến ngày 19/8/2024 là 331.543.585đ. Đồng thời, ông L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số TCU202112774/HĐTD ngày 09/3/2021 gồm Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số TCU202112774/01 ngày 09/3/2021 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số TCU202112774/02 ngày 04/5/2022 kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc cho Ngân hàng.
[3.6] Trường hợp ông Lê Bảo L không trả nợ hoặc trả không đủ số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng số TCU202112774/HĐTD ngày 09/3/2021 gồm Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số TCU202112774/01 ngày 09/3/2021 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số TCU202112774/02 ngày 04/5/2022 thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số TCU202112774/HDTC ngày 11/3/2021 được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần K1 với ông Lê Bảo L để thu hồi nợ.
[3.7] Trường hợp việc xử lý tài sản thế chấp chưa thanh toán hết các khoản nợ thì ông Lê Bảo L còn phải thanh toán tiếp cho đến khi trả hết nợ.
[3.8] Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù bị đơn ông Lê Bảo L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần K2 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông L và Công ty cổ phần K2 không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, không tham dự phiên tòa và cũng không cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án nên phải chịu hậu quả pháp lý của việc không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh. Do đó, Tòa án căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3.9] Về chi phí tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên ông Lê Bảo L có trách nhiệm hoàn trả lại Ngân hàng số tiền 5.215.000đ.
[3.10] Về án phí dân sự sơ thẩm:
[3.10.1] Ông Lê Bảo L phải chịu 76.037.952đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
[3.10.2] Ngân hàng thương mại cổ phần K1 được nhận lại 36.724.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001671 ngày 06/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 85, Điều 86; Điều 91; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 158; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Khoản 16 Điều 4; khoản 2 Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- - Khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần K1 đối với ông Lê Bảo L.
Buộc ông Lê Bảo L có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần K1 tổng số tiền là 2.201.897.609đ, trong đó vốn: 1.870.354.024đ, lãi tạm tính đến ngày 19/8/2024 là 331.543.585đ.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 19/8/2024) ông Lê Bảo L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số TCU202112774/HĐTD ngày 09/3/2021 gồm Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số TCU202112774/01 ngày 09/3/2021 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số TCU202112774/02 ngày 04/5/2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trường hợp ông Lê Bảo L không trả nợ hoặc trả không đủ số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng số TCU202112774/HĐTD ngày 09/3/2021 gồm Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số TCU202112774/01 ngày 09/3/2021 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số TCU202112774/02 ngày 04/5/2022 thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số TCU202112774/HDTC ngày 11/3/2021 được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần K1 với ông Lê Bảo L để thu hồi nợ.
Trường hợp việc xử lý tài sản thế chấp chưa thanh toán hết các khoản nợ thì ông Lê Bảo L còn phải thanh toán tiếp cho đến khi trả hết nợ.
- Về chi phí tố tụng: Buộc ông Lê Bảo L có trách nhiệm hoàn trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần K1 số tiền 5.215.000đ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Lê Bảo L phải chịu 76.037.952đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng thương mại cổ phần K1 được nhận lại 36.724.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001671 ngày 06/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
- Về quyền kháng cáo:
Ngân hàng thương mại cổ phần K1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Ông Lê Bảo L và Công ty cổ phần K2 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Lan |
Bản án số 272/2024/DS-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản
- Số bản án: 272/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP K1 kiện Lê Bảo L
