TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 272/2024/HNGĐ-ST Ngày: 15/4/2024 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Hoài
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lý Thành Trung.
- Ông Nguyễn Minh Phương.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thanh Xuân - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận 11, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trương Võ Thùy Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 16/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/QÐST-HNGĐ ngày 29/3/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thu T, sinh năm 1991; thường trú: Tổ Dân phố T, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Ông Thái Ngọc H, sinh năm 1984; thường trú: 135 đường Đ, phường H, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: A đường C, phường A, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại Đơn khởi kiện ngày 11/10/2023, bản tự khai và các biên bản hòa giải, nguyên đơn là bà Võ Thị Thu T trình bày:
Bà T và ông Thái Ngọc H tự nguyện tìm hiểu rồi tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn. Giấy chứng nhận kết hôn số 89 do Ủy ban nhân dân Phường H1, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 21/10/2011.
Trong quá trình chung sống, phát sinh nhiều mâu thuẫn và bất đồng trong cuộc sống. Chúng tôi không hợp nhau và có nhiều khác biệt trong lối sống, suy nghĩ. Mâu thuẫn giữa hai bên chủ yếu về tình cảm, dù đã cố gắng hàng gắn nhưng không thành. Nay cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, mâu thuẫn hai bên giữa hai bên đã quá trầm trọng, mục đích cuộc hôn nhân không còn, nên tôi đề nghị Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Thái Ngọc H.
Về con chung: có 02 con chung Thái Ngọc T (nữ), sinh ngày 11/02/2011; Thái Bảo T1 (nam), sinh ngày: 06/6/2023. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án nhân dân Quận 11 đã thực hiện đầy đủ thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đối với bị đơn nhưng phía bị đơn đã không đến Tòa án để giải quyết. Do đó, Tòa án không thể tiến hành ghi nhận ý kiến đối với phía bị đơn được.
* Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết, Thẩm phán chưa đảm bảo thời hạn tống đạt thông báo thụ lý cho bị đơn. Tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành trình tự tố tụng đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; sau khi nghe đương sự có mặt tại phiên tòa trình bày, căn cứ vào nội dung tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Bà Võ Thị Thu T khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với ông Thái Ngọc H nên đây là vụ án tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Thái Ngọc H cư trú tại Quận A nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Bà Võ Thị Thu T có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 12/3/2024. Phiên tòa xét xử vụ án được mở vào lúc 08 giờ 00 ngày 29/3/2024 và 08 giờ 00 ngày 15/4/2024, ông Thái Ngọc H đã được thông báo về thời gian và địa điểm xét xử vụ án nêu trên nhưng đều vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Võ Thị Thu T và ông Thái Ngọc H tự tìm hiểu rồi tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn (Giấy chứng nhận kết hôn số 89 do Ủy ban nhân dân Phường H1, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 21/10/2011), đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống do bất đồng về quan điểm sống, cuộc sống dần lạnh nhạt, mâu thuẫn trong hôn nhân kéo dài. Mặc dù gia đình hai bên đã cố gắng hàn gắn nhưng vợ chồng vẫn không hòa thuận. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục mối quan hệ hôn nhân nữa nên bà Võ Thị Thu T yêu cầu Tòa án cho ly hôn với ông Thái Ngọc H.
Theo Điều 19 Luật Hôn nhân Gia đình: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên cuộc sống giữa bà T và ông H không hạnh phúc, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên hòa giải, tiếp cận công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, thông báo về kết quả phiên hòa giải, tiếp cận công khai chứng cứ và Quyết định hoãn phiên tòa cho ông H đến Tòa án để giải quyết tranh chấp ly hôn nhưng ông H cố tình vắng mặt và cũng không có ý kiến phản hồi những vấn đề bà T yêu cầu đã được ghi trong thông báo thụ lý vụ án, chứng tỏ ông H không quan tâm cũng không thiết tha đoàn tụ gia đình. Việc bà T yêu cầu ly hôn với ông H là chính đáng; do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn với ông H của bà T.
[4] Về con chung: Có 02 (hai) con chung là trẻ Thái Ngọc T (nữ), sinh ngày 11/02/2011; Thái Bảo T2 (nam), sinh ngày: 06/6/2023, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Theo Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Hội đồng xét xử xét thấy bà T hiện là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Ông H vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến về việc chăm sóc con chung; hơn nữa nguyện vọng của trẻ Thủy Tiên mong muốn được ở với mẹ; do đó, Hội đồng xét xử thiết nghĩ cần tiếp tục giao trẻ T và Bảo T2 cho bà Võ Thị Thu T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông Thái Ngọc H cấp dưỡng nuôi con.
[5] Về tài sản chung: Nguyên đơn khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về nợ chung: Nguyên đơn khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí:
Bà Võ Thị Thu T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Xét về quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của bà Võ Thị Thu T.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Thu T được ly hôn với ông Thái Ngọc H.
Giấy chứng nhận kết hôn số 89 do Ủy ban nhân dân Phường H1, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 21/10/2011 không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Giao cho bà Võ Thị Thu T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ T3 (nữ), sinh ngày 11/02/2011; Thái Bảo T1 (nam), sinh ngày: 06/6/2023. Việc giao nhận con được thực hiện ngay sau khi quyết định có hiệu lực pháp luật. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông Thái Ngọc H cấp dưỡng nuôi con.
Ông H được quyền thăm nom con, không ai được cản trở ông H thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con. Vì quyền, lợi ích của con, việc nuôi dưỡng và cấp dưỡng con chung có thể được thay đổi.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Bà Võ Thị Thu T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0021893 ngày 19/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Đương sự đã nộp đủ án phí.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Hoài |
Bản án số 272/2024/HNGĐ-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 272/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
