Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 272/2024/HS-ST

Ngày: 13 - 6 - 2024

----------------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Chí Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Phước.
  2. Ông Trần Đăng Vạn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thế Vinh – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc N - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 06 và ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 247/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử số 276/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024, với hình thức trực tuyến: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức và điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Bá N1, sinh năm 2002 tại Thành phố Đà Nẵng; Nơi đăng ký thường trú: Thôn B, xã H, huyện H, Thành phố Đà Nẵng. Nơi cư trú hiện nay: Thôn B, xã H, huyện H, Thành phố Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần D, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1971; Bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2024.

Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ - Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Số 989 đường Đ, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Những người tham gia tố tụng:

Bị hại:

  • - Ông Lê Tường A, sinh năm 1991. Nơi thường trú: 113/AD1 xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre. Nơi cư trú hiện nay: 1 Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Bà Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1989. Nơi thường trú: ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú: Số B N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Trần D, sinh năm 1967. Nơi cư trú hiện nay: Thôn B, xã H, huyện H, Thành phố Đà Nẵng.
  • - Ông Lê Tuấn T1, sinh năm 1991. Nơi cư trú hiện nay: 1 N, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 08/01/2024, Trần Bá N1 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh biển số 43S4 - 4728 đến quán cà phê tại tầng trệt, tòa nhà S L, khu phố E, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để uống cà phê và chơi game. Khoảng 02 giờ 40 phút ngày 09/01/2024, trong lúc uống cà phê thì N1 có đi ra cầu thang bộ để nghe điện thoại. Tại đây, N1 phát hiện Văn phòng làm việc ở tầng 2 tòa nhà trên không khóa cửa, bên trong có để máy vi tính xách tay trên bàn làm việc, không có người trông coi. Lúc này, N1 nảy sinh ý định lấy trộm máy vi tính xách tay bán lấy tiền tiêu xài. N1 đi bộ trở xuống lại quán cà phê lấy ba lô đeo lên vai rồi đi lên lại Văn phòng làm việc tại tầng 2. N1 dùng hai tay đẩy cửa phòng rồi đi vào trong, N1 đi đến cuối góc phòng bên phải phòng làm việc, đặt ba lô xuống đất và lấy chiếc máy vi tính xách tay hiệu Apple Macbook Air màu xám của anh Lê Trường A1 (sinh năm 1994; Nơi thường trú: 113/AD1, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre; Nơi ở hiện tại: 1 Q, Phường A, quận G, TP .) đang để trên bàn làm việc rồi bỏ vào ba lô. N1 tiếp tục đến bàn làm việc của chị Nguyễn Thị Mỹ L1 (sinh năm 1989; Nơi thường trú: ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh; Nơi ở hiện tại: B N, Phường C, quận G, TP .) lấy trộm máy vi tính xách tay hiệu Dell Inspison 15 Ram 8GB, SSD 512GB màu đen rồi bỏ vào ba lô rồi đeo lên vai đi ra ngoài, xuống lại quán cà phê lấy xe mô tô tẩu thoát.

Sau khi lấy trộm được tài sản, N1 mang 02 máy vi tính xách tay trên đến nơi làm việc tại tầng 2, tòa nhà A Công trường M, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cất giấu. Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, N1 mang máy vi tính xách tay hiệu Dell lấy trộm được của chị Lê m đến tiệm cầm đồ “Lê Trực” số D H, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cầm cố cho anh Lê Tuấn T1 (sinh năm 1991; Nơi thường trú: 1 N, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh) với giá 300.000 đồng lấy tiền tiêu xài cá nhân. Đến ngày 15/01/2024, chị L1 và anh A1 đến Công an phường A trình báo sự việc. Qua hình ảnh trích xuất camera, Cơ quan Công an tiến hành truy xét mời Trần Bá N1 về làm việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Trần Bá N1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tài sản trộm cắp theo Kết luận định giá tài sản số 04-KV1/KLĐG-HĐĐGTS ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: 01 chiếc máy vi tính xách tay hiệu Dell Inspison 15 Ram 8GB, SSD 512GB, màu đen, trị giá 6.833.000 đồng; 01 chiếc máy vi tính xách tay hiệu Apple +Macbook Air 2017 màu xám, trị giá 7.100.000 đồng; Tổng giá trị tài sản mà bị cáo Trần Bá N1 chiếm đoạt là 13.933.000 đồng. Tại bản Cáo trạng số 249/CT-VKSTPTĐ ngày 08/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Trần Bá N1 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Trần Bá N1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thực hiện một mình hành vi trộm cắp tài sản như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố, bị cáo thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải.

Bị cáo Trần Bá N1 thừa nhận mang máy vi tính xách tay hiệu Dell lấy trộm được của chị Lê m đến tiệm cầm đồ “Lê Trực” số D H, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cầm cố cho anh Lê Tuấn T1 với giá 300.000 đồng lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận trách nhiệm dân sự, đồng ý trả lại tài sản cho anh Lê Tuấn T1 số tiền 300.000 đồng.

Bị cáo không tự tranh luận, bào chữa.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi, hành vi của bị cáo bộc phát, thiếu suy nghĩ. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo cơ hội tiếp tục học tập.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Bá N1 về tội “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần Bá N1, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng đề nghị xử phạt bị cáo Trần Bá Nhân t 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Phần trách nhiệm dân sự.

Anh Lê Trường A1 và chị Nguyễn Thị Mỹ L1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì về dân sự.

Anh Lê Tuấn T1 yêu cầu Trần Bá N1 trả lại tài sản là số tiền 300.000 đồng mà N1 cầm cố máy vi tính xách tay.

Vật chứng vụ án gồm:

  • - 01 chiếc máy vi tính xách tay hiệu Dell Inspison 15 Ram 8GB, SSD 512GB, màu đen của chị Nguyễn Thị Mỹ Lê. Ngày 23/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T ra Quyết định xử lý vật chứng và đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Mỹ L1;
  • - 01 chiếc máy vi tính xách tay hiệu Apple Macbook Air 2017 màu xám của anh Lê Trường A1. Ngày 23/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T ra Quyết định xử lý vật chứng và đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Lê Trường A1;
  • - 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh biển số 43S4-4728, số máy: 0684369, số khung: 684129. Qua xác minh xe mô tô trên do ông Trần D (sinh năm 1967; Nơi thường trú: thôn B, xã H, huyện H, Thành phố Đà Nẵng) là cha ruột của bị cáo Trần Bá N1 đứng tên chủ sở hữu và cho N1 mượn làm phương tiện sử dụng đi học. Anh D không biết việc N1 sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngày 12/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu là anh Trần D;
  • - 01 ba lô màu đen, xanh dương có chữ Sport; 01 áo sơ mi màu xám dài tay; 01 USB ghi nhận nội dung vụ trộm cắp tài sản. Các vật chứng này đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và xử lý theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã có Quyết định chuyển vật chứng số 193/QĐ-VKSTPTĐ ngày 09/5/2024, chuyển các vật chứng trên đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức tạm giữ, chờ xử lý.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

Căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập được có tại hồ sơ vụ án, và lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo Trần Bá N1 tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội của bị cáo N1 theo Bản kết luận điều tra vụ án hình sự đề nghị truy tố số 261/KLĐT-ĐTTH, ngày 16/4/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh là xác thực với các chứng cứ có tại hồ sơ và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa. Bị cáo bị truy tố theo Cáo trạng số 249/CT-VKSTPTĐ ngày 08/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là truy tố có căn cứ.

Hội đồng xét xử nhận thấy đây là vụ án “Trộm cắp tài sản” do bị cáo Trần Bá N1 thực hiện một mình. Bị cáo N1 là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 02 giờ 40 phút ngày 09/01/2024, Trần Bá N1 đã đột nhập vào Văn phòng làm việc tại tầng 2, tòa nhà S L, khu phố E, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh lén lút trộm cắp 01 cái máy vi tính xách tay hiệu Apple Macbook Air màu xám của anh Lê Trường A1, trị giá 7.100.000 đồng và 01 cái máy vi tính xách tay hiệu Dell Inspison 15 Ram 8GB, SSD 512GB màu đen của chị Nguyễn Thị Mỹ L1, trị giá 6.833.000 đồng. Sau khi trộm cắp được tài sản, N1 đem về cất giấu tại tầng 2, tòa nhà A Công trường M, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, N1 mang 01 cái máy vi tính trộm cắp được của chị L1 cầm cố cho anh Lê Tuấn T1 với giá 300.000 đồng lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Theo Kết luận định giá tài sản số 04-KV1/KLĐG-HĐĐGTS ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thành phố T, kết luận:

  • - 01 chiếc máy vi tính xách tay hiệu Dell Inspison 15 Ram 8GB, SSD 512GB, màu đen, trị giá 6.833.000 đồng.
  • - 01 chiếc máy vi tính xách tay hiệu A2 Air 2017 màu xám, trị giá 7.100.000 đồng;

Tổng giá trị tài sản mà bị cáo Trần Bá N1 chiếm đoạt là 13.933.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Trần Bá N1 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ nên cần phải xử lý trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Xét thấy đủ cơ sở pháp lý truy xét, kết luận hành vi của bị cáo Trần Bá N1 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Trần Bá N1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Bá N1 thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, bị cáo là sinh viên có hành vi phạm tội độc phát, thiếu suy nghĩ, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo Trần Bá Nhân t1 giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và áp dụng cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Trần Bá N1: 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

  • - Anh Lê Trường A1 và chị Nguyễn Thị Mỹ L1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xét giải quyết.
  • - Anh Lê Tuấn T1 yêu cầu bị cáo Trần Bá N1 trả lại tài sản là số tiền 300.000 đồng mà N1 cầm cố máy vi tính xách tay là có cơ sở. Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu này của anh T1 và buộc bị cáo Trần Bá N1 có trách nhiệm dân sự: phải trả lại tài sản cho anh Lê Tuấn T1 là số tiền 300.000 đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[5] Về các biện pháp tư pháp: Không có

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 chiếc máy vi tính xách tay hiệu Dell Inspison 15 Ram 8GB, SSD 512GB, màu đen của chị Nguyễn Thị Mỹ Lê. Ngày 23/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T ra Quyết định xử lý vật chứng và đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Mỹ L1 nên Hội đồng xét xử không xem xét;
  • - 01 chiếc máy vi tính xách tay hiệu Apple Macbook Air 2017 màu xám của anh Lê Trường A1. Ngày 23/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T ra Quyết định xử lý vật chứng và đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Lê Trường A1 nên Hội đồng xét xử không xem xét;
  • - 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh biển số 43S4-4728, số máy: 0684369, số khung: 684129 của ông Trần D. Ngày 12/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T ra Quyết định xử lý vật chứng đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Trần Diệm .1
  • - 01 ba lô màu đen, xanh dương có chữ Sport; 01 áo sơ mi màu xám dài tay, xét đây là công cụ liên quan đến hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng, Hội đồng xét xử xét cần tịch thu, tiêu hủy.
  • - 01 USB ghi nhận nội dung vụ trộm cắp tài sản xét cho lưu kèm sơ vụ án.

[7] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (đối với việc thực hiện trả lại tài sản cho anh Lê Tuấn T1).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Bá N1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 4, Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2021.
  3. Xử phạt bị cáo Trần Bá N1: 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm, 06 (sáu) tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Trần Bá N1 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, Thành phố Đà Nẵng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, Thành phố Đà Nẵng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

    Trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, buộc bị cáo Trần Bá N1 phải trả lại tài sản cho anh Lê Tuấn T1 là số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  5. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021:
    • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 ba lô màu đen, xanh dương có chữ Sport; 01 áo sơ mi màu xám dài tay (theo Quyết định chuyển vật chứng số 193/QĐ-VKSTPTĐ ngày 09/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức chuyển các vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
    • - Lưu kèm theo sơ vụ án: 01 USB ghi nhận nội dung vụ trộm cắp tài sản.
  6. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
  7. Buộc bị cáo Trần Bá N1 phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

  8. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình năm 2015. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị cáo đã được nghe giải thích chế định án treo.
  9. Bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc được niêm yết.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 272/2024/HS-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 272/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger