Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 272/2025/HS-ST

Ngày: 29-10-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAΙ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Loan Trần Hải Yến

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Chính
  2. Bà Huỳnh Thị Minh Huệ

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Quốc Khánh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Võ Hồng Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 264/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 276/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Phạm Anh B (tên gọi khác: không), sinh năm 2003, tại Đồng Nai;

Nơi đăng ký thường trú và cư trú: 160/17/41, tổ B, khu phố F, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Nay là khu phố C, phường T, tỉnh Đồng Nai).

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Anh D (đã chết) và bà Trương Thị Thanh N; Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo bị bắt quả tang ngày 04/4/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực B - Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Đ. (Bị cáo có mặt)

2. Trần Trọng Đ (tên gọi khác: không), sinh năm 2001, tại Vĩnh Long.

Nơi đăng ký thường trú và cư trú: Ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (Nay là xã N, tỉnh Vĩnh Long).

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn P và bà Nguyễn Thị Ư; Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 12-3-2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai) xử phạt 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 20 (hai mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm theo Bản án hình sự sơ thẩm số 133/2021/HS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2021.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 04/4/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực B - Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Đ. (Bị cáo có mặt)

3. Nguyễn Ngọc T (tên gọi khác: không), sinh năm 1999, tại Đồng Nai.

Nơi đăng ký thường trú và cư trú: 69/80, tổ A, khu phố G, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Nay là khu phố C, phường T, tỉnh Đồng Nai).

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc T1 (đã chết) và bà Vũ Thị Ngọc L; Bị cáo chung sống như vợ chồng với Nguyễn Thị Kim N1, sinh năm 2001 và có 02 con sinh năm 2020 và năm 2023.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 04/4/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực B - Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Đ. (Bị cáo có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Anh B, Trần Trọng Đ và Nguyễn Ngọc T là bạn bè quen biết với nhau và đều là người sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 10 giờ ngày 03/4/2025, B và Đ đang uống nước tại 01 quán cà phê (không rõ địa chỉ) thuộc xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long thì B dùng điện thoại gọi cho T qua M để cùng bàn bạc mua ma túy về sử dụng. B, Đ và T thống nhất mỗi người góp 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) để B mua ma túy rồi cả nhóm sẽ đến thành phố B, tỉnh Đồng Nai thuê nhà nghỉ và cùng nhau sử dụng, B sẽ bỏ tiền ra trước để mua ma túy sau đó T và Đ sẽ trả lại sau. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở B đi đến một con hẻm (không rõ địa chỉ) thuộc xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long gặp một thanh niên tên M1 (không rõ họ, địa chỉ) và mua một gói ma túy với giá 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) kèm theo một nỏ thủy tinh để sử dụng ma túy. Sau khi mua được ma túy, B giấu gói ma túy vào túi quần rồi cùng Đ về nhà Đ tại ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long nghỉ ngơi. Đến khoảng 13 giờ 00 cùng ngày, B và Đ đón xe khách đi đến thành phố B và trong lúc mua vé xe Đ đã trả lại cho B 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) là tiền góp mua ma túy. Đến khoảng 19 giờ 00 cùng ngày, khi đến thành phố B thì B gọi điện thoại cho T biết rồi B cùng Đ thuê xe G đi đến nhà T tại khu phố G, phường B, thành phố B (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai) đón T để đi thuê nhà nghỉ và cùng sử dụng ma túy. Khoảng 21 giờ 00 ngày 03/4/2025, B, Đ và T đến nhà nghỉ “Việt H” tại khu phố A, phường A, thành phố B (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai) thuê phòng số 305 để cùng nhau sử dụng ma túy. Khi vào phòng, B đặt gói ma túy và nỏ thủy tinh lên giường, còn T lấy nỏ thủy tinh cùng với một chai nhựa và một ống hút nhựa có sẵn trong phòng làm thành một bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Sau đó, T đổ một phần ma túy trong gói nilon vào nỏ thủy tinh rồi dùng bật lửa gas hơ nóng nỏ thủy tinh để sử dụng ma túy, phần ma túy còn lại trong gói nilon T hàn kín lại rồi để trong rổ đựng điều khiển ti vi của nhà nghỉ bên cạnh chỗ sử dụng ma túy. Sau khi T sử dụng ma túy xong thì đưa nỏ thủy tinh cho B và Đ cùng sử dụng ma túy. Trong quá trình sử dụng ma túy, T đã trả cho B 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) gồm 100.000 đồng là tiền mua ma túy và 100.000 đồng là tiền thuê nhà nghỉ. Đến khoảng 01 giờ 00 ngày 04/4/2025, khi B, T và Đ đang sử dụng ma túy thì bị Công an phường A phát hiện và lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang để điều tra, xử lý.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 nỏ thủy tinh bên trong chứa chất màu trắng, 01 gói nilon bên trong chứa chất màu trắng (đã niêm phong), 01 chai nhựa trên nắp gồm 01 ống hút; 03 bật lửa gas là công cụ các bị cáo Phạm Anh B, Trần Trọng Đ và Nguyễn Ngọc T sử dụng vào việc phạm tội;
  • - 01 loa nghe nhạc kích thước 21cm x 10cm x 8,5cm hiệu XM-505 là phương tiện của bị cáo Phạm Anh B sử dụng vào việc phạm tội.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, số Imei: 358683093887611 là phương tiện bị cáo Trần Trọng Đ sử dụng vào việc phạm tội.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A91 số Imei 864299049224671 là phương tiện bị cáo Nguyễn Ngọc T sử dụng vào việc phạm tội.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, số Imei 357447885023681 là phương tiện bị cáo Phạm Anh B sử dụng vào việc phạm tội.

Tại kết luận giám định số 566/KL-KTHS ngày 10/04/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:

  • “- Mẫu chất màu trắng (ký hiệu M1) bám dính trong 01 (một) nỏ thủy tinh được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định khối lượng.
  • - Mẫu chất màu trắng (ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy. Khối lượng: 0,3126 gam. Loại: Methamphetamine”.

Tại bản cáo trạng số: 208/CT-VKSBH ngày 24/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai truy tố bị cáo Phạm Anh B, Trần Trọng Đ và Nguyễn Ngọc T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Anh B từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù; xử phạt bị cáo Trần Trọng Đ từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,3126 gam và 01 nỏ thủy tinh đựng trong gói niêm phong số 566/KI-KTIS của Phòng K Công an tỉnh Đ.
  • Tịch thu tiêu hủy 03 bật lửa gas: 01 chai nhựa trên nắp gắn 01 ống hút nhựa là công cụ các bị cáo Phạm Anh B, Trần Trọng Đ và Nguyễn Ngọc T sử dụng vào việc phạm tội.
  • Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, số Imei: 358683093887611 là phương tiện bị cáo Trần Trọng Đ sử dụng vào việc phạm tội.
  • Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A91, số Imei: 864299049224671 là phương tiện bị cáo Nguyễn Ngọc T sử dụng vào việc phạm tội.
  • Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, số IMEI: 357447885023681 và 01 loa nghe nhạc kích thước 21cm x 10cm x 8.5cm hiệu XM-505 là phương tiện của bị cáo Phạm Anh B sử dụng vào việc phạm tội.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Lời nói sau cùng của các bị cáo:

Bị cáo Phạm Anh B: Mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về lo cho mẹ.

Bị cáo Trần Trọng Đ: Mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình, hòa nhập xã hội.

Bị cáo Nguyễn Ngọc T: Bị cáo đã rất ăn năn, hối cải mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, các chứng cứ khác có tại hồ sơ và cáo trạng mô tả, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 21 giờ 00 ngày 03/4/2025 tại phòng số 305 của nhà nghỉ “Việt H” thuộc khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai) Phạm Anh B, Trần Trọng Đ và Nguyễn Ngọc T đã có hành vi cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Đến khoảng 01 giờ 00 ngày 04/4/2025 thì B, Đ và T bị bắt quả tang để điều tra, xử lý.

[2.1] Hành vi của bị cáo Phạm Anh B, Trần Trọng Đ, Nguyễn Ngọc T đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng đã truy tố là có căn cứ. Trong vụ án có đồng phạm nhưng ở mức giản đơn, bị cáo B là người rủ rê các bị cáo T, Đ cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

[2.2] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và là một trong những nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm cũng như các tệ nạn xã hội khác. Nên cần xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, cải tạo giáo dục và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • [5.1] Đối với số ma túy còn lại sau giám định khối lượng 0,3126 gam và 01 nỏ thủy tinh đựng trong gói niêm phong số 566/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh Đ là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • [5.2] Đối với 03 bật lửa gas; 01 chai nhựa trên nắp gắn 01 ống hút nhựa là công cụ các bị cáo Phạm Anh B, Trần Trọng Đ và Nguyễn Ngọc T sử dụng vào việc phạm tội.
  • [5.3] Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, số Imei: 358683093887611 là phương tiện bị cáo Trần Trọng Đ sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước.
  • [5.4] Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A91, số Imei: 864299049224671 là phương tiện bị cáo Nguyễn Ngọc T sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước.
  • [5.5] Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, số IMEI: 357447885023681 và 01 loa nghe nhạc kích thước 21cm x 10cm x 8.5cm hiệu XM-505 là phương tiện của bị cáo Phạm Anh B sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước.

[6] Đối với đối tượng tên M1 (chưa rõ họ, địa chỉ) là người đã bán ma túy cho Phạm Anh B, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đang tiếp tục điều tra, xác minh, khi đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

[7] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai về tội danh, về xử lý vật chứng và án phí là phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
    • - Tuyên bố các bị cáo Phạm Anh B, Trần Trọng Đ, Nguyễn Ngọc T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
    • - Xử phạt bị cáo Phạm Anh B 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2025.
    • - Xử phạt bị cáo Trần Trọng Đ 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2025.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2025.
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
    • - Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,3126 gam và 01 nỏ thủy tinh đựng trong gói niêm phong số 566/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh Đ; 03 bật lửa gas; 01 chai nhựa trên nắp gắn 01 ống hút nhựa là công cụ phạm tội.
    • - Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, số Imei: 358683093887611 của bị cáo Trần Trọng Đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A91, số Imei: 864299049224671 của bị báo Nguyễn Ngọc T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, số Imei: 357447885023681 và 01 loa nghe nhạc kích thước 21cm x 10cm x 8.5cm hiệu XM-505 của bị cáo Phạm Anh B.
    • (Các vật chứng nêu trên đang tạm giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Đồng Nai theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/10/2025)
  3. Về án phí hình sự: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Phạm Anh B, Trần Trọng Đ, Nguyễn Ngọc T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Biên Hòa - Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Đồng Nai.
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai (Phòng THA dân sự khu vực 1 - Đồng Nai);
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Loan Trần Hải Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 272/2025/HS-ST ngày 29/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 272/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Anh B + Đồng phạm phạm tội "tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger