Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 272/2025/HS-PT

Ngày: 14/4/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Thái Duy Nhiệm;
Các Thẩm phán:Ông Bùi Xuân Trọng;
Ông Phạm Đình Khánh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nhật Phong - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa:

Ông Đào Trọng Thuyết - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 254/2025/TLPT-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Huy T, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2025/HS-ST ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng.

* Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Huy T; tên gọi khác: Không; sinh năm 1987 tại Hải Dương;

Nơi ĐKHK thường trú: P.3218, CT2 T, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội; nơi ở trước khi bị bắt: Căn hộ 3702 G, V, phường M, quận N, Thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp trước khi phạm tội: Kinh doanh ô tô; trình độ văn hóa: 12/12; con ông: Nguyễn Huy B, sinh năm 1952 và con bà: Lục Thị L, sinh năm 1957; anh chị em ruột có 03 anh người, bị cáo là con thứ 03 trong gia đình; vợ: Dương Huyền T1, sinh năm 1992 (đã ly hôn năm 2023) và có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/7/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh C, có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo:

  • Bà Nguyễn Thị Ánh N, Luật sư Công ty L3, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, vắng mặt.
  • Bà Hoàng Thị L1, Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C, có mặt.

* Bị hại không kháng cáo được Tòa án triệu tập:

  • - Ông Lê Bá C, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Cao Bằng, vắng mặt.
  • - Bà Đàm Thị Kim C1, sinh năm 1988; địa chỉ: B, khu đô thị M, phường D, quận H, thành phố Hà Nội, vắng mặt.

* Ngoài ra còn có: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dương Huyền T1 nhưng không kháng cáo, không liên quan đến nội dung kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu mua xe ô tô về sử dụng, qua sự giới thiệu từ người quen nên ngày 24/4/2024, ông Lê Bá C liên lạc với Nguyễn Huy T để đặt mua 01 xe ô tô Toyota Landcruise LC300 màu đen mới sản xuất năm 2024. Nguyễn Huy T báo giá tiền là 5.301.000.000đ (trong đó giá xe là 4.286.000.000đ, tiền công chênh là 500.000.000đ, tiền thuế trước bạ 515.000.000đ). Ông Lê Bá C đồng ý và thỏa thuận với Nguyễn Huy T giao xe vào cuối tháng 5/2024. Sau khi thống nhất Nguyễn Huy T yêu cầu ông C chuyển trước số tiền 1.500.000.000đ để đặt cọc xe, ông C đồng ý. Cùng ngày vợ ông C là Đàm Thị Kim C1 chuyển tiền đặt cọc vào tài khoản Nguyễn Huy T theo thỏa thuận. Nhận được tiền của vợ chồng ông C, cùng ngày Nguyễn Huy T đã liên lạc với anh Nguyễn Đức T2 (là Giám đốc Công ty Cổ phần Ô) để đặt mua 01 xe ô tô Toyota Landcruise LC300 màu đen và hẹn giao xe trong tháng 5/2024, đồng thời Nguyễn Huy T chuyển vào tài khoản Công ty Cổ phần Ô số tiền 200.000.000đ để đặt cọc, giữa hai bên thỏa thuận nếu không lấy xe thì bên mua mất số tiền cọc. Số tiền còn lại (1,3 tỷ đồng) Nguyễn Huy T sử dụng chi tiêu cá nhân. Cùng ngày, Nguyễn Huy T mang hợp đồng mua bán xe ô tô đến nhà cho Đàm Thị Kim C1, nội dung hợp đồng thể hiện đúng như thỏa thuận giữa T và anh C trước đó.

Ngày 27/4/2024, anh Nguyễn Đức Trung liên L2 với Nguyễn Huy T yêu cầu chuyển nốt số tiền đặt cọc là 550.000.000đ thì Công ty mới làm hợp đồng, chuẩn bị đủ tiền mặt và có thể giao xe vào ngày 02/5/2024 nhưng T trả lời khách lấy chậm hơn và sẽ lấy xe vào cuối tháng 5 thì anh T2 đồng ý. Tuy nhiên, sau đó Nguyễn Huy T vẫn không chuyển thêm số tiền cọc cho T2. Từ ngày 03/5/2024 đến ngày

07/5/2024, anh T2 tiếp tục liên lạc với T và giục T chuyển tiền cọc để T2 làm thủ tục lấy xe theo thỏa thuận nhưng T trả lời để T báo khách xong sẽ báo lại.

Đến ngày 21/5/2024, Nguyễn Huy T thông báo cho anh C là đã có xe và đề nghị anh C chuyển số tiền còn lại để lấy xe và hẹn giao xe vào ngày 26/5/2024. Cùng ngày, ông C và bà C1 đã chuyển vào tài khoản Nguyễn Huy T với tổng số tiền 3.801.000.000 đồng. Nhận được tiền từ vợ chồng ông C, T không chuyển cho anh T2 để lấy xe mà sử dụng chi tiêu cá nhân. Ngày 23/5/2024, T nhắn tin cho anh T2 thông báo khách xem ngày 27 âm lịch lấy xe (tức ngày 03/6/2024 dương lịch), anh T2 đồng ý và tiếp tục giục T chuyển tiền cọc để làm hợp đồng nhưng T không thực hiện.

Ngày 25/5/2024, ông C gọi điện thoại cho T và nói sẽ nhận xe vào ngày 26/5/2024 nhưng T nói dối ông C là chiếc xe mua về bị xước nên đổi chiếc xe mới khác cho ông C và sẽ giao xe vào giữa tháng 6/2024. Nghe T nói vậy, anh C tin tưởng nên đồng ý cho T thêm thời gian để giao xe. Đến ngày 13/6/2024, ông C tiếp tục nhắn tin cho T hỏi có xe chưa thì T trả lời khoảng từ ngày 15/6/2024 đến 22/6/2024 sẽ có xe. Ông C hẹn T đúng ngày 19/6/2024 lấy xe, nếu không được thì ông C không lấy nữa và sẽ lấy lại tiền. Đến ngày 15/6/2024, ông C tiếp tục nhắn tin hỏi T có chắc chắn ngày 19/6/2024 có xe không và nếu không có thì ông C lấy lại tiền thì T vẫn hứa hẹn là giao xe đúng thời hạn.

Ngày 17/6/2024, T nhắn tin cho anh T2 xin lấy lại số tiền cọc với lý do “khách khó khăn không lấy được” nhưng vì thỏa thuận trước đó giữa anh T2 và T nói rõ “không lấy xe thì phải mất tiền cọc” nên đến nay anh T2 vẫn đang giữ số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng này.

Từ ngày 18/6/2024 đến ngày 28/7/2024, ông Lê Bá C nhiều lần gọi điện thoại và nhắn tin cho T yêu cầu thực hiện việc giao xe theo hợp đồng và nếu không có xe thì trả lại tiền cho ông C nhưng T không nghe máy hoặc nếu có trả lời tin nhắn thì T liên tục trì hoãn thời gian giao xe và chỉ nói xe chưa về nên chưa giao được, phải chờ thêm. Ông C nói nếu không lấy được xe thì trả lại tiền thì T tiếp tục khất hẹn và cũng không trả lại tiền. Ông C đã tìm gặp T nhiều lần nhưng không gặp được, khi đến trụ sở Công ty của T được ghi trong hợp đồng thì được biết Công ty của T không còn ở đây nữa nên ngày 28/7/2024 ông Lê Bá C làm đơn tố cáo hành vi chiếm đoạt tài sản của T với Cơ quan chức năng.

Tổng số tiền Nguyễn Huy T đã chiếm đoạt của vợ, chồng Lê Bá C và Đàm Thị Kim C1 là 5.301.000.000đ (năm tỷ ba trăm linh một triệu đồng).

Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2025/HSST ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng khoản 4 Điều 175; điểm b khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Huy T 13 năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 30/7/2024.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, buộc nghĩa vụ chịu án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 24/01/2025, bị cáo Nguyễn Huy T có đơn kháng cáo kêu oan. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Huy T lúc đầu giữ nguyên nội dung kháng cáo, nhưng sau đó bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo trình bày: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã mô tả về diễn biến thỏa thuận mua, bán xe ô tô giữa bị cáo với vợ chồng ông C; đã thừa nhận có nhận của ông C tổng số tiền 5.301.000.000đ để bán xe cho ông C, nhưng bị cáo không giao xe đúng thời hạn là có sự đồng ý của ông C. Sau khi giải thích bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội có quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Huy T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Khi xét xử Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên đã xử phạt bị cáo mức án như bản án sơ thẩm là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật; tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật nên đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, chỉ đề nghị giảm nhẹ hình phạt; đây là tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự chưa được áp dụng, nên có căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm giảm hình phạt cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo phát biểu: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo như bản án sơ thẩm đã mô tả, tuy lúc đầu bị cáo không phạm tội, nhưng sau khi được Luật sư giải thích bị cáo đã thành khẩn thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; trách nhiệm dân sự trong vụ án đã được giải quyết xong; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, có bố, mẹ già yếu, ly hôn vợ hiện đang nuôi con nhỏ. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, giảm hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên tòa phúc thẩm bà Nguyễn Thị Ánh N là Luật sư bào chữa cho bị cáo do gia đình bị cáo mời vắng mặt, có đơn xin hoãn phiên tòa nhưng không phải vì lý do bất khả kháng, hoặc trở ngại khách quan; Tòa án cấp phúc thẩm đã chỉ định Luật sư Hoàng Thị L1, Đoàn Luật sư tỉnh C bào chữa cho bị cáo, nên quyền bào chữa của bị cáo đã được đảm bảo, bị cáo nhất trí để Luật sư L1 bào chữa cho mình và đề nghị Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử với sự vắng mặt của Luật sư N. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ quy định của pháp luật tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Huy T khai nhận diễn biến hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm mô tả là đúng. Tuy lúc đầu bị cáo cho rằng bị cáo không chiếm đoạt tiền của ông C, bị cáo đã bàn giao xe cho ông C theo đúng hợp đồng, chỉ giao muộn hơn so với thời hạn nhưng được sự đồng ý của ông C, nên hành vi của bị cáo không phạm tội. Tuy nhiên, sau đó được sự giải thích của người bào chữa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã mô tả và quy kết, chỉ đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, thấy phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với lời khai của bị hại, các dữ liệu điện tử được trích xuất từ điện thoại của bị cáo là các tin nhắn qua lại giữa bị cáo và ông C liên quan đến việc trao đổi mua xe ô tô, chuyển tiền mua xe và các tin nhắn ông C yêu cầu và luôn thúc dục bị cáo phải giao xe cho ông C theo đúng thời hạn của hợp đồng, nếu không giao được xe thì yêu cầu bị cáo chuyển trả lại tiền cho ông C, nhưng bị cáo đã đưa ra những thông tin gian dối như xe bị lỗi, chưa có xe để giao, hoặc hẹn thời gian cụ thể để giao xe nhưng vẫn không giao được xe đúng hẹn cho ông C; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, phù hợp với kết quả xét xử tại phiên tòa sơ thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 24/4/2024, thông qua sự giới thiệu của người quen Nguyễn Huy T nhận mua xe ô tô nhãn hiệu Toyota Landcruise LC300 màu đen cho vợ chồng ông Lê Bá C và Đàm Thị Kim C1 với tổng số tiền 5.301.000.000đ (năm tỷ ba trăm linh một triệu đồng), trong đó tiền xe là 4.286.000.000đ (bốn tỷ hai trăm tám mươi sáu triệu đồng), tiền thuế trước bạ 515.000.000đ và tiền công chênh 500.000.000đ. Cùng ngày 24/4/2024, vợ chồng ông C chuyển khoản số tiền

1.500.000.000đ tiền đặt cọc và lập hợp đồng đặt cọc thể hiện trong tháng 5/2024 Nguyễn Huy T phải bàn giao xe cho vợ chồng C, C1. Đến ngày 21/5/2024, mặc dù chưa mua được xe nhưng Nguyễn Huy T vẫn thông báo cho ông C đã có xe và yêu cầu ông C chuyển nốt số tiền còn lại là 3.801.000.000đ; vợ chồng ông C tin tưởng nên đã chuyển đủ số tiền mua xe cho bị cáo. Nhận được tiền từ vợ chồng ông C, Nguyễn Huy T chuyển khoản 200.000.000đ cho Công ty Cổ phần Ô để đặt cọc mua xe, số tiền còn lại T đã sử dụng hết vào chi tiêu cá nhân. Ngày 27/4/2024, anh Nguyễn Đức T2, Giám đốc Công ty Cổ phần Ô liên lạc với Nguyễn Huy T yêu cầu chuyển đủ số tiền đặt còn lại là 500.000.000đ thì Công ty mới làm hợp đồng và yêu cầu chuẩn bị đủ tiền để có thể ngày 02/5/2024 sẽ giao xe cho T, nhưng T không thực hiện. Đến hạn trả xe theo hợp đồng, T đã nói dối ông C do xe vận chuyển về bị xước nên phải đổi lại xe khác, do đó ông C tin tưởng và cho T thêm thời gian giao xe. Tuy nhiên, sau nhiều lần khất hẹn, không nhận được xe cũng không đòi lại được tiền ông C đã làm đơn tố cáo sự việc với Cơ quan chức năng. Hành vi của Nguyễn Huy T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; cấp sơ thẩm quy kết bị cáo với tội danh nêu trên theo quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, bị cáo không bị oan.

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội; hành vi đó không những xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh chính đáng của các doanh nghiệp. Bị cáo chiếm đoạt của vợ chồng C, C1 tổng số tiền 5.301.000.000 đồng nên cấp sơ thẩm quy kết bị cáo theo khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[4] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Huy T, Hội đồng xét xử thấy: Như đã phân tích ở trên thì bị cáo không bị oan; khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, đã xác định đúng số tiền bị cáo chiếm đoạt; cũng như đã xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, như: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, từ trước tới nay chưa vi phạm; sau khi sự việc xẩy ra gia đình đã khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; nhưng do số tiền bị cáo chiếm đoạt là tương đối lớn, nên cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 13 năm tù là phù hợp. Tuy nhiên, xét quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận việc làm của mình, nhưng cho rằng hành vi đó không cấu thành phạm tội mà là quan hệ dân sự, đó là do nhận thức của bị cáo; tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như

bản án sơ thẩm đã mô tả và quy kết, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội đã tỏ ra ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự chưa được cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo, nên cấp phúc thẩm cần áp dụng. Từ đó, có căn cứ chấp nhận kháng cáo để giảm cho bị cáo một phần hình phạt, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội biết ăn năn hối cải, khắc phục triệt để hậu quả. Do đó, có căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, cũng như người bào chữa cho bị cáo đề nghị chấp nhận kháng cáo, giảm hình phạt cho bị cáo là phù hợp.

[5] Về án phí: Bị cáo được chấp nhận kháng cáo, nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Huy T; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2025/HSST ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng; tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;

Áp dụng khoản 4 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Huy T 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (là ngày 30/7/2024).

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Huy T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Cao Bằng (02 bản);
  • - Công an tỉnh Cao Bằng;
  • - Cơ quan THA HS, Công an tỉnh Cao Bằng;
  • - Cục THADS tỉnh Cao Bằng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Bị cáo (qua trại tạm giam);
  • - Lưu HSVA; HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Duy Nhiệm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 272/2025/HS-PT ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 272/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Huy T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger