Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 272/2025/HS-PT

Ngày 04 - 6 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Quang;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đình Trung;

Ông Trần Nam Phương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 523/2024/TLPT-HS ngày 16 tháng 12 năm 2024 đối với các bị cáo Lưu Bá Ư và các bị cáo khác; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 591/2024/HS-ST ngày 05-11-2024, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

Bị cáo có kháng cáo:

  1. Lưu Bá Ư, sinh năm 1969 tại Thái Bình; nơi thường trú: A, Tổ A, Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nơi ở hiện tại: Tổ B, Khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 07/12; con ông Lưu Bá Ô, sinh năm 1928 (đã chết) và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1926; gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ bảy; có vợ tên Đỗ Thị H, sinh năm 1971 và có 02 con, sinh năm 1990 và sinh năm 1992; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 29-10-2020, bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 173/2020/HSST, đã được xóa án tích; bị cáo bị bắt tạm, tạm giam giữ ngày 28-5-2024 đến ngày 29-6-2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh; có mặt.

  2. Nguyễn Vũ Đ (tên gọi khác: Đạt L), sinh năm 1987, tại Đồng Nai; nơi thường trú: 475/4, Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên Chúa; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 08/12; con ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1965 và bà Vũ Thị Kim H1, sinh năm 1965 (đã chết); bị cáo là con duy nhất trong gia đình và chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 20-11-2008, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản” theo Bản án số 664/2008/HSST, đã được xóa án tích; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28-5-2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt).

  3. Nguyễn Phương L1, sinh năm 1992, tại Đồng Nai; nơi thường trú: 46/4/15, Khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nơi ở trước khi bị bắt: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Lớp 06/12; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1960 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1966; gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; có vợ Huỳnh Thị Ngọc T, sinh năm 1989 và có 01 con sinh năm 2012; tiền sự: Không;

    Tiền án: Ngày 30-9-2023, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 30.000.000₫ (ba mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 226/2023/HS-ST.

    Nhân thân:

    • Ngày 26-7-2013, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 131/2013/HSST, đã được xóa án tích.
    • Ngày 15-3-2016, bị Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000₫ về hành vi “Đánh bạc” theo Quyết định số 60/QĐ-XPHC, đã được xóa án tích.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 28-5-2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ; có mặt.

  4. Vũ Quốc M, sinh năm 1990, tại Hà Nội; nơi thường trú: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 03/12; con ông Vũ Văn T1, sinh năm 1952 và bà Lê Thị D, sinh năm 1957; gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ sáu và chưa có vợ, con; tiền sự: Không;

    Tiền án: Ngày 10-12-2020, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng) về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 279/2020/HS-ST, bị cáo chưa chấp hành xong Bản án;

    Nhân thân:

    • Ngày 05-5-2008, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 221/2008/HSST, đã được xóa án tích;
    • Ngày 28-7-2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”;

    Bị cáo bị bắt giam giữ, tạm giam từ ngày 28-5-2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt).

  5. Nguyễn Văn L2, sinh năm 1978, tại Hà Nội; nơi thường trú: G, Tổ D, Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; con ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1957; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; có vợ Đinh Thị Y, sinh năm 1980 và có 02 con, sinh năm 1997 và sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:

    • Ngày 19-7-1999, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, theo Bản án số 255/ST, đã được xóa án tích;
    • Ngày 21-9-2004, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 342/HSST, đã được xóa án tích;

    Bị cáo tại ngoại (có mặt).

Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

T3 thuê căn nhà tại địa chỉ Tổ D, Khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai của chị Nguyễn Thúy D1 để ở và kinh doanh buôn bán lồng chim. Vào ngày 27/5/2024, H3 bàn bạc, thống nhất với T3 sử dụng căn nhà của T3 đang thuê làm địa điểm tổ chức đánh bạc trái phép dưới hình thức mở sòng bạc “xóc đĩa” thắng thua bằng tiền để thu tiền xâu chia nhau (chia đôi), T3 đồng ý. Hậu chuẩn bị dụng cụ gồm 01 (Một) đĩa sứ màu trắng, 01 (một) nắp nhựa, 04 (bốn) con vị (mỗi con vị có 01 mặt màu đỏ và 01 mặt màu đen) để phục vụ cho việc đánh bạc và trực tiếp quản lý sòng bạc, thu tiền xâu.

Vào khoảng 13 giờ 35 phút ngày 28/5/2024, H3 điện thoại gọi rủ Đ, M1 đến nhà của T3 để đánh bạc. Lam, M biết việc M1 đến sòng bạc của H3 để đánh bạc nên cũng đi theo. Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, H3 đi đón rồi dẫn Đ, M1, L1, M đến sòng bạc. T4, Ư, T5, P, H4, L3, L2 nghe nói có sòng bạc nên cũng đến sòng bạc của H3 để đánh bạc.

Đến khoảng 15 giờ 00 phút ngày 28/5/2024, tại căn nhà của T3, H3 bắt đầu tổ chức cho T4, Ư, Đ, L1, Mỹ, T5, M1, P, H4, L3, L2 và khoảng 03 người khác (không rõ lai lịch, địa chỉ) thực hiện hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi “xóc đĩa” để hưởng tiền xâu. Lụa và L2 mỗi người tham gia đánh bạc 02 (hai) ván nhưng đều thua nên nghỉ không tham gia đánh bạc nữa mà ngồi xem đánh bạc. T4, Ư, Đ, L1, Mỹ, T5, M1, P, H4 và khoảng 03 người khác (không rõ lai lịch) tiếp tục tham gia đánh bạc với nhau.

Cách thức đánh bạc: Người làm cái bỏ 04 (bốn) con vị (mỗi con vị có 01 mặt màu đỏ và 01 mặt màu đen) vào đĩa, dùng nắp nhựa úp lại và xóc lên rồi đặt xuống. Các con bạc tự đặt tiền cược vào bên “Chẵn” hoặc bên “Lẻ” trên chiếu bạc với số tiền đặt cược từ 20.000đ (hai mươi nghìn đồng) đến 1.000.000đ (một triệu đồng)/ván (“Chẵn” là trường hợp có 02 con vị cùng có một màu đỏ và 02 con vị cùng có mặt màu đen hoặc 04 con vị cùng có mặt chung một màu; “Lẻ” là trường hợp có 03 con vị có mặt màu đen và 01 con vị có mặt màu đỏ hoặc 03 con vị có mặt màu đỏ và 01 con vị có mặt màu đen). Người làm cái sẽ cân tiền đặt cược hai bên bằng nhau, nếu tiền đặt cược hai bên không bằng nhau thì sẽ bắt đầu lại ván khác. Sau khi tiền đặt cược hai bên bằng nhau thì người làm cái mở nắp ra. Nếu kết quả là “Chẵn” thì những người đặt tiền bên “Chẵn” sẽ thắng cược những người đặt tiền bên “Lẻ” và ngược lại, người làm cái sẽ lấy tiền của bên thua trả cho bên thắng với số tiền tương ứng số tiền đã đặt cược.

H3 là người làm cái xóc đĩa và cân tiền đặt cược của các bên mà không tham gia đặt cược đánh bạc. H3 sẽ thu tiền xâu với mức 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng)/ván từ người thắng cược nếu kết quả ván cược có 03 con vị cùng có mặt màu đen.

Số tiền từng người sử dụng đánh bạc như sau:

  • T4 mang theo và sử dụng 5.000.000đ (năm triệu đồng) để đánh bạc. Quá trình đánh bạc T4 thắng 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng). Khi bị bắt, thu giữ của T4 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) để dưới chiếu bạc và 8.000.000đ (tám triệu đồng) trên người T4 đang dùng đánh bạc.
  • Ưng mang theo và sử dụng 5.000.000đ (năm triệu đồng) để đánh bạc. Quá trình đánh bạc Ưng thắng 1.400.000₫ (một triệu bốn trăm nghìn đồng). Khi bị bắt, thu giữ trên người của Ưng 6.400.000đ (sáu triệu bốn trăm nghìn đồng) đang dùng đánh bạc.
  • Đ mang theo và sử dụng 3.000.000đ (ba triệu đồng) để đánh bạc. Quá trình đánh bạc Đ thua 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng). Khi bị bắt, thu giữ trên người của Đ 1.800.000đ (một triệu tám trăm nghìn đồng) đang dùng đánh bạc.
  • L4 mang theo 4.800.000đ (bốn triệu tám trăm nghìn đồng), L1 đưa 2.000.000₫ (hai triệu đồng) cho Vũ Quốc M sử dụng tham gia đánh bạc hộ (giùm) cho L1. Quá trình đánh bạc, L1 và Mỹ hòa (không thắng không thua). Khi bị bắt, thu giữ của L1 và M 2.000.000đ (hai triệu đồng) để dưới chiếu bạc đang dùng đánh bạc. Ngoài ra còn thu giữ của L1 2.800.000₫ (hai triệu tám trăm nghìn đồng) và của M 4.500.000đ (bốn triệu năm trăm nghìn đồng) để trong người không dùng đánh bạc.
  • T5 mang theo và sử dụng 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) để đánh bạc. Quá trình đánh bạc T5 thua 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Khi bị bắt, thu giữ của T5 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) để dưới chiếu bạc và 1.000.000đ (một triệu đồng) trên người T5 đang dùng đánh bạc.
  • M1 mang theo và sử dụng 1.000.000đ (một triệu đồng) để đánh bạc. Quá trình đánh bạc M1 thắng 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng). Khi bị bắt, thu giữ của M1 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) để dưới chiếu bạc và 1.200.000₫ (một triệu hai trăm nghìn đồng) trên người M1 đang dùng đánh bạc.
  • P mang theo 10.500.000đ (mười triệu năm trăm nghìn đồng) và sử dụng 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) để đánh bạc. Quá trình đánh bạc P thua 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Khi bị bắt, thu giữ trên người của P 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) đang dùng đánh bạc và 10.000.000đ (mười triệu đồng) không dùng đánh bạc.
  • H4 mang theo và sử dụng 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) để đánh bạc. Quá trình đánh bạc H4 thua 100.000đ (một trăm nghìn đồng). Khi bị bắt, thu giữ trên người của H4 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) đang dùng đánh bạc.
  • Lụa mang theo và sử dụng 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) để đánh bạc. Quá trình đánh bạc Lụa thua 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng).
  • L2 mang theo 340.000đ (ba trăm bốn mươi nghìn đồng) và sử dụng 40.000₫ (bốn mươi nghìn đồng) để đánh bạc. Quá trình đánh bạc L2 thua 40.000₫ (bốn mươi nghìn đồng). Khi bị bắt, thu giữ trên người của L2 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) không dùng đánh bạc.

Đến khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày, T4, Ư, Đ, L1, Mỹ, T5, M1, P, H4 và khoảng 03 người khác (không rõ lai lịch, địa chỉ) đang thực hiện hành vi đánh bạc thì bị Đội Cảnh sát hình sự Công an thành phố B phối hợp với Công an phường T phát hiện bắt quả tang. Lực lượng Công an thu giữ trên chiếu bạc 8.960.000đ (tám triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng) và trên người của các con bạc là 18.900.000đ (mười tám triệu chín trăm nghìn đồng) tiền dùng vào việc đánh bạc, 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền xâu. T4, Ư, Đ, L1, Mỹ, T5, M1, P, H4, L3, L2 bị bắt giữ, những người tham gia đánh bạc khác bỏ chạy thoát và đã bỏ về trước.

Quá trình điều tra, H3, T3, T4, Ư, Đ, L1, Mỹ, T5, M1, P, H4, L3, L2 khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng vụ án:

  • Dụng cụ sử dụng đánh bạc gồm: 01 (một) đĩa sứ màu trắng, 01 (một) nắp nhựa, 04 (bốn) con vị (mỗi con vị có 01 mặt màu đỏ và 01 mặt màu đen).
  • Thu giữ trên chiếu bạc số tiền dùng đánh bạc 8.960.000đ (tám triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng) và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền xâu.
  • Thu giữ trên người các bị can số tiền 18.900.000đ (mười tám triệu chín trăm nghìn đồng) dùng đánh bạc, cụ thể: H4 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), T5 1.000.000₫ (một triệu đồng), Ưng 6.400.000đ (sáu triệu bốn trăm nghìn đồng), M2 (một triệu hai trăm nghìn đồng), T4 8.000.000đ (tám triệu đồng), Đ 1.800.000đ (một triệu tám trăm nghìn đồng), P 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
  • Thu giữ trên người các bị can số tiền 17.600.000đ (mười bảy triệu sáu trăm nghìn đồng) không dùng đánh bạc, cụ thể: Lam 2.800.000đ (hai triệu tám trăm nghìn đồng), M 4.500.000₫ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng), P 10.000.000đ (mười triệu đồng), L2 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS của H3 sử dụng để gọi rủ người khác đến đánh bạc.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu giữ số tài sản không liên quan đến việc phạm tội gồm:

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax của T4.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro của L1.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax của M1.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax của Mỹ.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi của Đ.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo của H4.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu S2 Galaxy A14 của T5.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XSmax của P.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu giữ và giao trả số tài sản không liên quan đến việc phạm tội gồm:

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 của U.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Z Flip3 của L2.

Quá trình điều tra, H3 và T3 khai vào ngày 27/5/2024 tại nhà T3 thuê, T3 đồng ý cho H3 sử dụng nhà làm địa điểm để H3 lắc cái cho các đối tượng (không rõ lai lịch) đánh bạc dưới hình thức “Xóc đĩa” nêu trên. H3 không nhớ những ai tham gia đánh bạc và không nhớ số tiền sử dụng đánh bạc của từng người, H3 chỉ nhớ tiền đặt cược đánh bạc khoảng dưới 500.000đ/ván. T3 không có mặt ở nhà khi diễn ra việc đánh bạc, cuối buổi đánh bạc H3 đã thu lợi 800.000₫ (tám trăm nghìn đồng) tiền xâu và chia cho T3 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng).

2. Quyết định của cấp sơ thẩm:

Tại Bản án sơ thẩm số: 591/2024/HS-ST ngày 05-11-2024, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H3, Trần Mạnh T3 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”. Các bị cáo Vũ Văn H4, Lê Đình T4, Lưu Bá Ư, Nguyễn Vũ Đ, Nguyễn Phương L1, Vũ Quốc M, Mai Hữu T5, Nguyễn Quang M1, Mai Thị P, Phạm Thị L3, Nguyễn Văn L2 phạm tội “Đánh bạc”.

1/ Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H3 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/5/2024.

2/ Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Trần Mạnh T3 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/5/2024.

3/ Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn H4 03 (ba) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/5/2024.

4/ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Lê Đình T4 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/5/2024.

5/ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Lưu Bá Ư 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị áp giải thi hành án phạt tù. Được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/5/2024 đến hết ngày 29/6/2024.

6/ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Vũ Đ 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/5/2024.

7/ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phương L1 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/5/2024.

8/ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Vũ Quốc M 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/5/2024.

9/ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Mai Hữu T5 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/5/2024.

10/ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang M1 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/5/2024.

11/ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Mai Thị P 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/5/2024.

12/ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 38; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị L3 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bổ sung bị cáo Phạm Thị L3 số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

Giao bị cáo Phạm Thị L3 cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật HYPERLINK "34" \o "Thi"Thi hành án hình sự, Thông tư số 64/2019/TT-BCA ngày 28/11/2019 của Bộ C.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

13/ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L2 04 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị áp giải thi hành án phạt tù.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

3. Kháng cáo:

Trong thời hạn luật định, các bị cáo Lưu Bá Ư, Nguyễn Vũ Đ, Nguyễn Lam P1, Vũ Quốc M, Nguyễn Văn L2, Mai Hữu T5, Nguyễn Quang M1 kháng cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt.

4. Quan điểm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:

Kiểm sát viên đã đánh giá, phát biểu quan điểm xử lý vụ án và đề nghị:

Về tội danh: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Về kháng cáo: Các bị cáo là người có nhân thân xấu, có tiền án và nhân thân nhiều lần phạm tội; hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp, không nặng như kháng cáo đã nêu. Các bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào khác nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị cáo Mai Hữu T5 và Nguyễn Quang M1 có đơn xin rút yêu cầu kháng cáo, Tòa án đã ban hành thông báo về việc rút kháng cáo, bản án sơ thẩm có hiệu lực thi hành đối với các bị cáo nên không đặt ra xem xét.

[2] Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về căn cứ quyết định hình phạt và kháng cáo:

3.1. Về căn cứ quyết định hình phạt:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo L1, M có tiền án về hành vi đánh bạc chưa được xóa án tích, phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Tại cấp sơ thẩm: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

+ Tại cấp phúc thẩm: Các bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới.

3.2. Về kháng cáo và hình phạt:

Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tuy nhiên, các bị cáo đều là những người có nhân thân xấu, đã từng nhiều lần bị kết án, xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Bị cáo L1 và M có tiền án về tội “Đánh bạc”; bị cáo Ư đã từng bị kết án 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”; bị cáo Đ đã bị kết án 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”; bị cáo L2 bị kết án 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quyết định áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo là có căn cứ, có sự phân hóa so với các bị cáo khác trong vụ án, không nặng như kháng cáo đã nêu. Các bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được bất kỳ tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có căn cứ chấp nhận. Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo.

[4] Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Các bị cáo Lưu Bá Ư, Nguyễn Vũ Đ, Nguyễn Lam P1, Vũ Quốc M, Nguyễn Văn L2 phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Quan điểm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Các vấn đề khác:

Ghi nhận việc bị cáo Vũ Quốc M đã nộp số tiền 25.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền nộp NSNN số 0003862 ngày 30-9-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo quyết định thi hành án số 1061 ngày 10-3-2021; bị cáo Nguyễn Phương L1 đã nộp số tiền 30.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền NSNN ngày 16-12-2024 theo quyết định thi hành án số 426 ngày 29-11-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom (bản án số 226/HSST ngày 30-9-2023).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lưu Bá Ư, Nguyễn Vũ Đ, Nguyễn Lam P1, Vũ Quốc M và Nguyễn Văn L2; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 591/2024/HS-ST ngày 05-11-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

1. Về tội danh và hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 (đối với bị cáo M, L1) Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố các bị cáo Lưu Bá Ư, Nguyễn Vũ Đ, Nguyễn Phương L1, Vũ Quốc M, Nguyễn Văn L2 phạm tội “Đánh bạc”; xử phạt:

1/ Bị cáo Lưu Bá Ư 01 (một) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành hình phạt tù, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/5/2024 đến ngày 29/6/2024.

2/ Bị cáo Nguyễn Vũ Đ 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/5/2024.

3/ Bị cáo Nguyễn Phương L1 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/5/2024.

4/ Bị cáo Vũ Quốc M 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/5/2024.

5/ Bị cáo Nguyễn Văn L2 04 (bốn) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành hình phạt tù.

2. Về biện pháp ngăn chặn:

Tiếp tục tạm giam các bị cáo Vũ Quốc M, Nguyễn Phương L1 và Nguyễn Vũ Đ theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử phúc thẩm để đảm bảo thi hành án.

3. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Các bị cáo Lưu Bá Ư, Nguyễn Vũ Đ, Nguyễn Lam P1, Vũ Quốc M, Nguyễn Văn L2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

4. Quyết định khác của Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo khác; xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Đình Trung – Trần Nam Phương Nguyễn Xuân Quang
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 272/2025/HS-PT ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (đánh bạc, tổ chức đánh bạc)

  • Số bản án: 272/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo của bị cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger