TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 272/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 09 - 6 – 2025
“V/v: Tranh chấp ly hôn và nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Lam;
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Võ Duy Bảo;
- Ông Nguyễn Hồ Cảnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Thái - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 104/2025/TLST-HNGĐ, ngày 19 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 293/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025.
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. (vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1992; địa chỉ trước xuất cảnh: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. (vắng mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Cao Thị O, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T tỉnh Nghệ An ngày 23/4/2014 và chung sống được một thời gian thì quan điểm, tính tình của hai người thay đổi nên phát sinh mâu thuẫn. Tình cảm vợ chồng rạn nứt và không thể hòa hợp được. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T và đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt chị.
Con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị và anh T có 01 con chung là cháu Nguyễn Nhật Anh K, sinh ngày 20/02/2015. Nếu ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao cháu Nguyễn Nhật A Khoa cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không yêu cầu anh Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Biên bản lấy lời khai của anh Nguyễn Văn T: Anh thừa nhận quan hệ hôn nhân, con chung, nguyên nhân phát sinh mâu thuẩn đúng như chị H trình bày. Đối với yêu cầu khởi kiện của chị H anh đồng ý ly hôn, tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với con chung anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến lúc trưởng thành, không yêu cầu chị H thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Ý kiến của cháu Nguyễn Nhật Anh K sinh ngày 20/02/2015: Anh T và chị H là bố mẹ đẻ của cháu, trường hợp bố và mẹ ly hôn thì cháu K lựa chọn anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng.
Nội dung lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Cao Thị O:
Bà là mẹ đẻ của bị đơn anh Nguyễn Văn T có địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Bà đã nhận được các văn bản tố tụng liên quan đến vụ án theo đơn khởi kiện của nguyên đơn do Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An tống đạt, bà đã thông báo nội dung các văn bản trên cho anh T được biết. Hiện tại anh T đã trở về Việt Nam sinh sống. Các nội dung khởi kiện của nguyên đơn bà không có ý kiến gì, ngoài ra bà đã có thời gian trực tiếp nuôi dưỡng cháu K là con chung của nguyên đơn và bị đơn tuy nhiên bà không yêu cầu họ phải trả công sức đã nuôi dưỡng cháu K.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký đã ban hành các quyết định và thực hiện đầy đủ các trình tự theo quy định của pháp luật. Tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án thì anh T có địa chỉ nơi cư trú thuộc huyện T, tỉnh Nghệ An đã xuất cảnh ra khỏi lãnh thổ Việt Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Trình tự phiên tòa Hội đồng xét xử đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng.
Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71, 72, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã được tống đạt văn bản tố tụng về việc mở phiên tòa nhưng họ đề nghị xét xử vắng mặt, do đó đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Nội dung: Tại thời điểm kết hôn nguyên đơn, bị đơn đủ tuổi kết hôn và có đăng ký kết hôn theo luật định, quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẩn như nguyên đơn, bị đơn trình bày và hai người đồng ý ly hôn, tuy nhiên không thỏa thuận được người trực tiếp nuôi con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử cho nguyên đơn và bị đơn được ly hôn theo các Điều 55, 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Con chung: Anh T, chị H có 01 con chung là cháu Nguyễn Nhật Anh K, sinh ngày 20/2/2015 hai người đều có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu người kia phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy nguyện vọng của nguyên đơn và bị đơn là chính đáng tuy nhiên từ trước tới nay cháu K được bà O nuôi dưỡng và anh T là người ở cùng với bà O. Để đảm bảo sự ổn định cuộc sống, tránh xáo trộn về môi trường sinh hoạt của cháu K đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành là phù hợp với ý chí nguyện vọng của cháu K.
Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1992, có địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Công văn số 513/QLXNC-Đ1 ngày 27/02/2025 của Phòng Q cho biết bị đơn đã nhập cảnh vào Việt Nam ngày 06/3/2023. Công văn số 178/CV-ĐBP ngày 22/4/2025 của Đồn biên phòng cửa khẩu T1 cho biết anh Nguyễn Văn T, sinh ngày 21/9/1992, số giấy thông hành: L0051981, ngày cấp 07/10/2024; ngày xuất cảnh gần nhất 29/3/2025, như vậy tại thời điểm vụ án được thụ lý thì bị đơn không cư trú trên lãnh thổ Việt Nam. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
[2] Sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng về việc mở các phiên họp và phiên tòa. Nguyên đơn và bị đơn đều đề nghị vắng mặt nên vụ án không thể tiến hành hòa giải được. Căn cứ khoản 1 Điều 228; Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiếp tục duy trì phiên tòa.
[3]. Nội dung vụ án: Đánh giá lời khai của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu có tại hồ sơ Hội đồng xét xử có căn cứ để khẳng định:
[3.1]. Quan hệ hôn nhân:
Tại thời điểm kết hôn nguyên đơn chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn T đủ điều kiện kết hôn theo luật định, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An vào ngày 23/4/2014, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn được một thời gian thì hai người phát sinh mâu thuẫn dẫn đến không quan tâm lẫn nhau mặc dù anh T cũng có một số lần nhập cảnh về Việt Nam, bị đơn đồng ý ly hôn với nguyên đơn như vậy cho thấy mâu thuẩn giữa nguyên đơn và bị đơn đã đến mức trầm trọng, tuy nhiên việc nuôi con chung không thỏa thuận được nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 55, 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho nguyên đơn và bị đơn được ly hôn.
[3.2]. Con chung: Cháu Nguyễn Nhật Anh K là con chung của nguyên đơn và bị đơn, tại thời điểm chị H khởi kiện đã được Tòa án thụ lý vụ án anh T đang làm việc ở Lào, nay đã nhập cảnh về Việt Nam. Nếu nguyên đơn và bị đơn ly hôn thì nguyện vọng của cháu K lựa chọn bị đơn là người trực tiếp nuôi dưỡng. Từ khi được 01 tuổi cho đến nay cháu K có thời gian sinh sống chủ yếu là với bà nội (bà O) và bị đơn. Để bảo đảm sự ổn định môi trường sinh hoạt và học tập của cháu K; Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu K cho bị đơn là người trực tiếp nuôi dưỡng như đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ.
[3.3]. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.4]. Công sức nuôi dưỡng cháu Nguyễn Nhật Anh K của bà Cao Thị O: Bà O không yêu cầu nguyên đơn và bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả công sức này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Án phí: Buộc nguyên đơn phải chịu nghĩa vụ án dân sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Các Điều 51, 55, 56, 58, 122, 123 và 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 1 Điều 228; Điều 229; Điều 147 và Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
- Quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H được ly hôn bị đơn anh Nguyễn Văn T.
- Con chung: Giao con chung Nguyễn Nhật Anh K, sinh ngày 20/12/2015 cho bị đơn anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành.
Chị Nguyễn Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở, không được lạm dụng việc thăm nom con chung để gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung. Nếu ai vi phạm thì người kia có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung.
Sau khi ly hôn, vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con bằng một vụ án dân sự độc lập khác.
- Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của nguyên đơn đối với bị đơn; nghĩa vụ chăm sóc nuôi dưỡng cháu K của nguyên đơn và bị đơn đối với bà Cao Thị O; tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu phát sinh tranh chấp các đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự độc lập khác tại Tòa án có thẩm quyền.
- Án phí: Buộc nguyên đơn chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà Ho Thi Hong N đã nộp thay theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số [...] ngày 17/02/2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Lam |
Bản án số 272/2025/HNGĐ-ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 272/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
