Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 272/2025/DS-PT

Ngày: 15/4/2025

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Anh Tuấn
Các Thẩm phán: Bà: Đặng Mai Hoa
Ông: Đàm Văn Thuận

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Đức - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân: Bà Nguyễn Thu Dung - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 14/2025/TLPT-DS ngày 15 tháng 01 năm 2025, về việc “ Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 95/2024/DS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2025/QĐPT-DS ngày 03 tháng 3 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 131/2025/QĐPT-HPTDS ngày 11 tháng 3 năm 2025 và Thông báo về việc mở lại phiên toà số 151/2025/TB-DS ngày 26 tháng 3 năm 2925, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn I (IVB)

Trụ sở: Số I N, phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: Ông LIU, CHUN-HAO - Tổng Giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông YANG, CHIEH - Giám đốc chi nhánh M; Ông Nguyễn Đức Q - Phó Giám đốc kinh doanh - Chi nhánh M; Ông Tạ Quang B - Phó phòng - Phòng quản lý nợ có vấn đề - Hội sở IVB; Ông Nguyễn Hữu X - Chuyên viên cao cấp - Phòng quản quản lý nợ có vấn đề - Hội sở IVB; Ông Đào Công T - Trưởng phòng Thẩm định tín dụng; bà Lê Ngọc D - Trưởng phòng Quản lý và hỗ trợ tín dụng; ông Phạm Minh T1 - Chuyên viên phòng thẩm định tín dụng; bà Chu Thị H - Chuyên viên phòng Quản lý và hỗ trợ tín dụng - Chi nhánh M theo Giấy ủy quyền số 74/2023/UQ-BOE-LED ngày 30/3/2023 và Giấy ủy quyền số 002/2024/UQ-IVB-MD ngày 02/01/2024.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Q1, sinh 1982 và bà Trần Thị H1, sinh 1987; Nơi đăng ký thường trú: B1, số E phố M, phường V, quận H, thành phố Hà Nội;

Người đại diện theo ủy quyền của các bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim A, sinh 1975; Nơi thường trú: Tổ A, phường M, quận H, thành phố Hà Nội; Ông Phạm Song H2, sinh 1979; Nơi thường trú: Tổ H khu B, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh theo Hợp đồng uỷ quyền ngày 25/4/2024 tại Văn phòng C1; Địa chỉ: Số C, phố K, phường G, quận B, thành phố Hà Nội.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Trách nhiệm hữu hạn H3; Trụ sở: Số H phố Đ, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu Đ - Tổng giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Song H2 - Nhân viên Công ty Trách nhiệm hữu hạn H3 theo Giấy ủy quyền số 1006/2024/UQ-HB ngày 11/6/2024.

Người kháng cáo: Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn.

Tại phiên toà có mặt người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, các lời khai tại Toà án và tại phiên tòa nguyên đơn là Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn I trình bày:

Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn I (gọi tắt là IVB) và vợ chồng ông Nguyễn Văn Q1, bà Trần Thị H1 đã ký kết những Hợp đồng tín dụng, có nội dung cơ bản như sau:

  1. Hợp đồng tín dụng số 136/IVBMĐ-HĐDH/2017 ngày 10/7/2017: Số tiền vay: 38.274.333.500VNĐ (Ba mươi tám tỷ, hai trăm bảy mươi tư triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn, năm trăm đồng); Mục đích vay: Tài trợ một phần chi phí mua 22 căn hộ chung cư thuộc Dự án khu phức hợp H Green Đ, đường L, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng, theo Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư Dự án Hòa Bình Green Đa Nang số 866/HĐMB/HĐGĐN ngày 27/6/2017 ký kết giữa Công ty TNHH H3 (gọi tắt là Công ty H3) với ông Nguyễn Văn Q1 và bà Trần Thị H1; Thời hạn vay: 15 năm kể từ ngày 12/7/2017 đến ngày 17/7/2032;

    Lãi suất tiền vay:

    • Trong năm đầu tiên kể từ ngày giải ngân đầu tiên đến hết ngày 30/6/2018: tiền lãi vay do chủ đầu tư dự án chịu trách nhiệm thanh toán thông qua tài khoản thanh toán của bên vay mở tại IVB - Chi nhánh M;
    • Sau ngày 30/6/2018: Lãi suất 10,5% cho 365 ngày;
    • Kể từ năm thứ hai trở đi: Lãi suất cho vay được áp dụng bằng: Lãi suất huy động tiết kiệm cá nhân VNĐ kỳ hạn 12 tháng trả lãi sau của IVB tại thời điểm thay đổi lãi suất cộng biên độ tối thiểu là 4%/năm, mức lãi suất này sẽ được xem xét điều chỉnh 03(ba) tháng một lần theo thông báo của I1.
    • Trong trường hợp chậm thanh toán nợ gốc hoặc một phần nợ gốc, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay hiện hành sẽ được tính trên số nợ gốc chậm thanh toán.
    • Trong trường hợp chậm thanh toán lãi vay, bên vay phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất là 10%/năm tính trên số dư nợ lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

    Tài sản bảo đảm cho khoản vay:

    22 căn hộ chung cư thuộc Dự án khu phức hợp H Green Đ, đường L, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng, theo Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư Dự án Hòa Bình Green Đa Nang số 866/HĐMB/HĐGĐN ngày 27/6/2017 ký kết giữa Công ty TNHH H3 với ông Nguyễn Văn Q1 và bà Trần Thị H1 (theo Hợp đồng thỏa thuận ba bên được ký kết giữa IVB - Chi nhánh M, Công ty H3 và ông Q1, bà H1 ngày 10/7/2017; Hợp đồng thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai ngày 10/7/2017, số công chứng 4427TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/7/2017, đăng ký giao dịch đảm bảo số 1255098647 ngày 11/7/2017).
  2. Hợp đồng tín dụng số 140/IVBMĐ-HĐDH/2017 ngày 15/7/2017: Số tiền vay 34.568.000.000 VNĐ (Ba mươi tư tỷ, năm trăm sáu mươi tám triệu đồng); Mục đích vay: Tài trợ một phần chi phí mua 19 căn hộ chung cư thuộc Dự án khu phức hợp H Green Đ, đường L, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng, theo Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư Dự án Hòa Bình Green Đa Nang số 933/HĐMB/HĐGĐN ngày 10/7/2017 ký kết giữa Công ty TNHH H3 với ông Nguyễn Văn Q1 và bà Trần Thị H1; Thời hạn vay: 15 năm kể từ ngày 18/7/2017 đến ngày 19/7/2032;

    Lãi suất tiền vay:

    • Trong năm đầu tiên kể từ ngày giải ngân đầu tiên đến hết ngày 30/6/2018: tiền lãi vay do chủ đầu tư dự án chịu trách nhiệm thanh toán thông qua tài khoản thanh toán của bên vay mở tại IVB- Chi nhánh M;
    • Sau ngày 30/6/2018: Lãi suất 10,5% cho 365 ngày;
    • Kể từ năm thứ hai trở đi: Lãi suất cho vay được áp dụng bằng: Lãi suất huy động tiết kiệm cá nhân VNĐ kỳ hạn 12 tháng trả lãi sau của IVB tại thời điểm thay đổi lãi suất cộng biên độ tối thiểu là 4%/năm, mức lãi suất này sẽ được xem xét điều chỉnh 03(Ba) tháng một lần theo thông báo của Ngân hàng.
    • Trong trường hợp chậm thanh toán nợ gốc hoặc một phần nợ gốc, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay hiện hành sẽ được tính trên số nợ gốc chậm thanh toán.
    • Trong trường hợp chậm thanh toán lãi vay, bên vay phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất là 10%/năm tính trên số dư nợ lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

    Tài sản bảo đảm cho khoản vay:

    19 căn hộ chung cư thuộc Dự án khu phức hợp H Green Đ, đường L, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng, theo Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư Dự án Hòa Bình G số 933/HĐMB/HĐGĐN ngày 10/7/2017, ký kết giữa Công ty TNHH H3 với ông Nguyễn Văn Q1 và bà Trần Thị H1 (theo Hợp đồng thỏa thuận ba bên được ký kết giữa IVB - Chi nhánh M, Công ty H3 và ông Q1, bà H1 ngày 15/7/2017; Hợp đồng thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai ngày 15/7/2017, số công chứng 4577TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/7/2017, đăng ký giao dịch đảm bảo số 1255841036 ngày 18/7/2017). 22 căn hộ chung cư thuộc Dự án khu phức hợp H Green Đ, đường L, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng theo Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư Dự án Hòa Bình Green Đa Nang số 866/HĐMB/HĐGĐN ngày 27/6/2017 ký kết giữa Công ty TNHH H3 với ông Nguyễn Văn Q1, bà Trần Thị H1 (theo Hợp đồng thỏa thuận ba bên được ký kết giữa IVB - Chi nhánh M, Công ty H3 và ông Q1, bà H1 ngày 10/7/2017); Hợp đồng thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai ngày 10/7/2017, số công chứng 4427TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/7/2017, đăng ký giao dịch đảm bảo số 1255098647 ngày 11/7/2017).

Thực hiện hợp đồng:

  1. Đối với Hợp đồng tín dụng số 136/TVBMĐ-HĐDH/2017 ngày 10/7/2017, IVB đã giải ngân số tiền vay 35.066.456.828VNĐ. Ông Nguyễn Văn Q1 và bà Trần Thị H1 đã thanh toán đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nêu trên đến hết ngày 31/7/2022. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Q1 và bà H1 vi phạm thời hạn trả nợ, IVB đã nhiều lần gia hạn, thay đổi thời gian và số tiền nợ cho ông Q1, bà H1 bằng: Phụ lục hợp đồng tín dụng lần 1 ngày 18/3/2020; Phụ lục hợp đồng tín dụng lần 2 ngày 30/7/2020; Phụ lục Hợp đồng tín dụng lần 3 ngày 28/02/2021; Phụ lục hợp đồng tín dụng lần 4 ngày 13/01/2022. Từ ngày 01/8/2022 đến nay, ông Q1 và bà H1 vi phạm nghĩa vụ trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết.

    Tính đến thời điểm khởi kiện, ông Q1 và bà H1 còn nợ: Số tiền gốc là 31.438.892.828VNĐ (Ba mươi mốt tỷ, bốn trăm ba mươi tám triệu, tám trăm chín mươi hai nghìn, tám trăm hai mươi tám đồng); Nợ lãi là 11.166.149.847VNĐ (Mười một tỷ, một trăm sáu mươi sáu triệu, một trăm bốn mươi chín nghìn, tám trăm bốn mươi bảy đồng); Nợ lãi trên nợ gốc chậm trả: 732.475.059VNĐ; Nợ lãi chậm trả đối với số dư nợ lãi: 643.948.294VNĐ.

    Tổng số nợ gốc và lãi là: 43.981.466.028VNĐ (Bốn mươi ba tỷ, chín trăm tám mươi mốt triệu, bốn trăm sáu mươi sáu nghìn, hai mươi tám đồng).

  2. Đối với Hợp đồng tín dụng số 140/TVBMĐ-HĐDH/2017 ngày 15/7/2017, IVB đã giải ngân số tiền vay 31.782.306.320VNĐ. Ông Nguyễn Văn Q1 và bà Trần Thị H1 đã thanh toán đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nêu trên đến hết ngày 31/7/2022. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Q1 và bà H1 vi phạm thời hạn trả nợ, IVB đã nhiều lần gia hạn, thay đổi thời gian và số tiền nợ cho ông Q1, bà H1 bằng Phụ lục hợp đồng tín dụng lần 1 ngày 18/3/2020; Phụ lục hợp đồng tín dụng lần 2 ngày 30/7/2020; Phụ lục Hợp đồng tín dụng lần 3 ngày 28/02/2021; Phụ lục hợp đồng tín dụng lần 4 ngày 13/01/2022. Từ ngày 01/8/2022 đến nay, ông Q1 và bà H1 vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng đã ký kết.

    Tính đến thời điểm khởi kiện, ông Q1 và bà H1 còn nợ số tiền gốc 28.494.481.529VNĐ (Hai mươi tám tỷ, bốn trăm chín mươi tư triệu, bốn trăm tám mươi mốt nghìn, năm trăm hai mươi chín đồng); Nợ lãi: 10.398.417.240VNĐ (Mười tỷ, ba trăm chín mươi tám triệu, bốn trăm mười bảy nghìn, hai trăm bốn mươi đồng); Nợ lãi trên nợ gốc chậm trả: 663.789.504VNĐ; Nợ lãi chậm trả đối với số dư nợ lãi: 599.034.976VNĐ.

    Tổng số nợ gốc và lãi là: 40.155.723.249VNĐ (Bốn mươi tỷ, một trăm năm mươi lăm triệu, bảy trăm hai mươi ba nghìn, hai trăm bốn mươi chín đồng).

Căn cứ các hợp đồng tín dụng, IVB đề nghị Tòa án tuyên buộc ông Nguyễn Văn Q1 và bà Trần Thị H1 phải thanh toán trả toàn bộ số nợ gốc, lãi của cả hai Hợp đồng tín dụng là 84.137.189.277 đồng (Tám mươi tư tỷ, một trăm ba mươi bảy triệu, một trăm tám mươi chín nghìn, hai trăm bảy mươi bảy đồng).

Trường hợp ông Q1 và bà H1 không trả được số nợ trên, đề nghị Tòa án tuyên phát mại tài sản bảo đảm theo các Hợp đồng thế chấp đã ký kết giữa các bên, gồm 41 căn hộ tại Dự án Hòa Bình G DaNang theo 02 Hợp đồng mua bán căn hộ được ký kết giữa Công ty H3 (Chủ đầu tư) với ông Q1 và bà H1.

Người đại diện ủy quyền của các bị đơn trình bày: Bị đơn công nhận ông Nguyễn Văn Q1 và bà Trần Thị H1 đã ký kết các Hợp đồng tín dụng như nguyên đơn trình bày; Xác nhận đã dùng 41 căn hộ tại Dự án khu phức hợp H Green Đ, đường L, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng theo Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư Dự án Hòa Bình G số 866 /HĐMB/HĐGĐN ngày 27/6/2017 và Hợp đồng số 933/HĐMB/HĐGĐN ngày 10/7/2017, ký kết giữa Công ty TNHH H3 với ông Nguyễn Văn Q1 và bà Trần Thị H1 để đảm bảo cho 02 Hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Quá trình thực hiện hợp đồng, do đại dịch C dẫn đến việc kinh doanh gặp khó khăn, nên ông Q1 và bà H1 không có khả năng trả nợ. Bị đơn xác nhận còn nợ khoản nợ gốc của hai Hợp đồng tín dụng là 59.933.374.357VNĐ (Năm mươi chín tỷ, chín trăm ba mươi ba triệu, ba trăm bảy mươi tư nghìn, ba trăm năm mươi bảy đồng). Về số nợ lãi, bị đơn sẽ đối chiếu với IVB để thống nhất. Bị đơn đề nghị IVB miễn toàn bộ khoản lãi trên nợ gốc chậm trả và khoản lãi chậm trả đối với số dư lãi chậm trả. Đề nghị IVB cho trả dần số nợ gốc. Nếu bị đơn vi phạm cam kết trả nợ, IVB có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự phát mại tài sản bảo đảm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH H3 ủy quyền cho cán bộ tham gia tố tụng, nhưng không đến Tòa án trình bày ý kiến, giao nộp tài liệu theo các thông báo của Tòa án.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Người đại diện ủy quyền của nguyên đơn có ý kiến: Nguyên đơn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện theo Hợp đồng tín dụng số 136/IVBMĐ-HĐTD ngày 10/7/2017; Hợp đồng tín dụng số 140/IVBMĐ-HĐTD/2017 ngày 15/7/2017 và Hợp đồng thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai. Đề nghị Tòa án tuyên buộc ông Nguyễn Văn Q1 và bà Trần Thị H1 phải trả Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn IndoVina số tiền nợ gốc của cả 02 Hợp đồng tín dụng là 59.933.374.357VNĐ (Năm mươi chín tỷ chín trăm ba mươi ba triệu ba trăm bảy mươi bốn nghìn ba trăm năm mươi bảy đồng); Buộc ông Nguyễn Văn Q1 và bà Trần Thị H1 phải trả Ngân hàng IVB các khoản nợ lãi của cả 02 Hợp đồng tín dụng tính đến hết ngày 17/7/2024 là 30.857.014.495VNĐ (Ba mươi tỷ, tám trăm năm mươi bảy triệu, không trăm mười bốn nghìn, bốn trăm chín mươi lăm đồng). Tổng số tiền gốc, lãi ông Nguyễn Văn Q1 và bà Trần Thị H1 có nghĩa vụ trả Ngân hàng IVB theo 02 Hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 90.790.388.852VNĐ (Chín mươi tỷ, bảy trăm chín mươi triệu, ba trăm tám mươi tám nghìn, tám trăm năm mươi hai đồng).

Trường hợp ông Q1 và bà H1 không trả được số nợ trên, đề nghị Tòa án tuyên phát mại tài sản bảo đảm theo các Hợp đồng thế chấp đã ký kết giữa các bên, gồm 41 căn hộ tại Dự án Hòa Bình G DaNang theo 02 Hợp đồng mua bán căn hộ được ký kết giữa Công ty H3 (Chủ đầu tư) với ông Q1 và bà H1.

Đối với khoản lãi tính trên số lãi chậm trả: Nội dung này đã được thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng khác hàng khi ký kết đã được biết. IVB căn cứ vào Thông tư số 39/2016 của Thống đốc Ngân hàng N; Nghị quyết số 10/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đề nghị không chấp nhận yêu cầu của bị đơn về khoản lãi chậm trả tính trên nợ lãi.

Người đại diện ủy quyền của bị đơn có ý kiến: Xác nhận việc hai bên ký kết 02 Hợp đồng tín dụng, xác nhận khoản nợ gốc tính đến ngày xét xử như nguyên đơn đưa ra. Bị đơn đồng ý trả khoản nợ lãi, lãi phạt quá hạn. Đối với khoản lãi tính trên số lãi chậm trả đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận khoản lãi này. Bị đơn cam kết sẽ thanh toán toàn bộ khoản nợ cho IVB vào tháng 12/2025. Trước mắt, bị đơn sẽ trả dần mỗi tháng 200 triệu đồng đến 300 triệu đồng, đến tháng 12/2025 sẽ trả hết khoản nợ.

Hiện nay, 41 căn hộ đang do chủ đầu tư quản lý khai thác cho thuê, tiền cho thuê chuyển vào tài khoản của ngân hàng, nhưng từ khi có dịch covid, chủ đầu tư không khai thác được lợi ích của các căn hộ. Hiện nay, còn số tiền 05% giá trị hợp đồng bị đơn chưa nộp, do chưa được cấp Sổ đỏ. Bị đơn xác nhận đã được bàn giao 41 căn hộ theo đúng thỏa thuận trong các Hợp đồng mua bán căn hộ đã ký kết. Đối với yêu cầu phát mại tài sản bảo đảm của IVB, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người đại diện của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH H3 trình bày: Xác nhận Công ty H3 là chủ đầu tư Dự án Hòa Bình G Đà Nẵng. Công ty H3 xác nhận việc ký kết 02 Hợp đồng mua bán căn hộ với ông Q1 và bà H1. Xác nhận ông Q1 và bà H1 mua 41 căn hộ của Dự án Hòa Bình G DaNang như nguyên đơn đã trình bày. Hiện nay, các căn hộ đã được bàn giao cho ông Q1, bà H1; số hiệu các căn hộ giữ nguyên như đã ghi trong Hợp đồng mua bán. Giữa chủ đầu tư, IVB và ông Q1, bà H1 không có tranh chấp về hợp đồng mua bán căn hộ; Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai. Hiện nay, hợp đồng mua bán căn hộ chưa hoàn thành do vẫn còn khoản 5% giá trị hợp đồng bị đơn chưa thanh toán, khi nào được cấp Giấy chứng nhận các căn hộ sẽ thanh toán hết theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán căn hộ.

Đối với yêu cầu phát mại tài sản bảo đảm là 41 căn hộ tại Dự án Hòa Bình G DaNang, Công ty H3 đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật. Chủ đầu tư không có ý kiến gì.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 95/2024/DS-ST ngày 18/7/2024 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội đã xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn I, về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn Q1, bà Trần Thị H1 phải trả khoản tiền vay, tiền nợ lãi theo các hợp đồng tín dụng: Hợp đồng tín dụng số 136/TVBMÐ-HĐDH/2017 ngày 10/7/2017; Hợp đồng tín dụng số 140/TVBMĐ-HĐDH/2017 ngày 15/7/2017.

[1.1] Buộc ông Nguyễn Văn Q1, bà Trần Thị H1 phải trả Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn IndoVina số tiền nợ gốc của cả 02 hợp đồng tín dụng là 59.933.374.357VNĐ( Năm mươi chín tỷ chín trăm ba mươi ba triệu ba trăm bảy mươi bốn nghìn ba trăm năm mươi bảy đồng);

[1.2] Buộc ông Nguyễn Văn Q1, bà Trần Thị H1 phải trả Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn IndoVina các khoản nợ lãi của cả 02 Hợp đồng tín dụng(tính đến ngày xét xử sơ thẩm) là 30.857.014.495VNĐ( Ba mươi tỷ tám trăm năm mươi bảy triệu không trăm mười bốn nghìn bốn trăm chín mươi lăm đồng).

[1.3] Tổng số tiền gốc, lãi ông Nguyễn Văn Q1, bà Trần Thị H1 có nghĩa vụ trả Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn IndoVina theo 02 hợp đồng tín dụng, tính đến ngày xét xử sơ thẩm: 90.790.388.852VNĐ( Chín mươi tỷ bảy trăm chín mươi triệu ba trăm tám mươi tám nghìn tám trăm năm mươi hai đồng).

Kể từ ngày tiếp theo ngày tuyên án sơ thẩm, ông Nguyễn Văn Q1 và bà Trần Thị H1 phải chịu lãi suất của số tiền nợ gốc theo mức lãi suất nợ quá hạn thỏa thuận trong từng hợp đồng tín dụng, cho đến khi thanh toán hết khoản tiền vay.

[2] Căn cứ Hợp đồng thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai, số công chứng 4427/HĐTC, ngày 10/7/2017; Hợp đồng thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai, số công chứng 4577/HĐTC, ngày 15/7/2017: Trường hợp ông Nguyễn Văn Q1, bà Trần Thị H1 không trả được các khoản nợ nêu trên, Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn I có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản bảo đảm là quyền sở hữu nhà ở của 41 căn hộ thuộc Dự án Hòa Bình G, đường L, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng (Các căn hộ cụ thể theo: Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư Dự án Hòa Bình G số 866/HĐMB/HĐGĐN ngày 27/6/2017; Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư Dự án Hòa Bình G số 933/HĐMB/HĐGĐN ngày 10/7/2017), để thu hồi các khoản nợ.

Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, ngày 24/7/2024 người đại diện hợp pháp của bị đơn có đơn kháng, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ nội dung Bản án dân sự sơ thẩm số 95/2024/DS-ST ngày 18/7/2024 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và các ý kiến đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới; các đương sự không hoà giải, giải quyết vụ án. Các đương sự xác nhận ngoài các tài liệu chứng cứ đã xuất trình thì không còn chứng cứ nào khác xuất trình cho Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự trong vụ án chấp hành quyền, nghĩa vụ theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Sau khi phân tích các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và trình bày của đương sự tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn đảm bảo về chủ thể, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 271, 272 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự nên việc kháng cáo là hợp lệ. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền.

[2] Về pháp luật áp dụng giải quyết vụ án: Quan hệ vay tài sản giữa nguyên đơn và bị đơn phát sinh trong lĩnh vực hoạt động tín dụng của ngân hàng, nội dung hình thức của giao dịch dân sự trên phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Bộ luật dân sự năm 2015. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện đến Tòa án. Vì vậy, pháp luật được áp dụng giải quyết trong vụ án là Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả tổng số tiền theo 02 Hợp đồng tín dụng tính đến ngày 17/7/2024, cụ thể:

Đối với Hợp đồng tín dụng số 136/IVBMĐ-HĐDH/2017 ngày 10/7/2017 (gọi tắt là Hợp đồng số 136) và Phụ lục hợp đồng tín dụng lần 1 ngày 18/3/2020; Phụ lục hợp đồng tín dụng lần 2 ngày 30/7/2020; Phụ lục Hợp đồng tín dụng lần 3 ngày 28/02/2021; Phụ lục hợp đồng tín dụng lần 4 ngày 13/01/2022: Số tiền nợ gốc vay chưa thanh toán là 31.438.892.828VNĐ ; Nợ lãi: 13.042.533.446VNĐ; Nợ lãi trên nợ gốc chậm trả: 1.480.292.292VNĐ; Nợ lãi chậm trả đối với số dư nợ lãi: 1.499.511.804VNĐ. Tổng số nợ gốc và lãi là: 47.416.230.370VNĐ (Bốn mươi bảy tỷ, bốn trăm mười sáu triệu, hai trăm ba mươi nghìn, ba trăm bảy mươi đồng).

Đối với Hợp đồng tín dụng số 140/IVBMĐ-HĐDH/2017 ngày 15/7/2017 (gọi tắt là Hợp đồng số 140) và Phụ lục hợp đồng tín dụng lần 1 ngày 18/3/2020; Phụ lục hợp đồng tín dụng lần 2 ngày 30/7/2020; Phụ lục Hợp đồng tín dụng lần 3 ngày 28/02/2021; Phụ lục hợp đồng tín dụng lần 4 ngày 13/01/2022: Số tiền nợ gốc 28.494.481.529VNĐ; Nợ lãi: 12.099.126.260VNĐ; Nợ lãi trên nợ gốc chậm trả: 1.341.482.517VNĐ; Nợ lãi chậm trả đối với số dư nợ lãi: 1.394.068.176VNĐ. Tổng số nợ gốc và lãi là: 43.329.158.482VNĐ (Bốn mươi ba tỷ ba trăm hai mươi chín triệu một trăm năm mươi tám nghìn bốn trăm tám mươi hai đồng).

Xét thấy, 02 Hợp đồng tín dụng trên được các bên ký kết tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội và phù hợp các quy định của Luật các tổ chức tín dụng, Thông tư số 39/2026/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng là hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên nên các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng. Quá trình thực hiện các Hợp đồng tín dụng, nguyên đơn đã thực hiện đúng các thỏa thuận trong hợp đồng, đã thực hiện việc giải ngân theo cam kết cho bị đơn, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo cam kết. Tại Toà án, bị đơn cũng thừa nhận đến ngày xét xử sơ thẩm bị đơn còn nợ nguyên đơn tổng số tiền: Theo Hợp đồng số 136 và các Phụ lục hợp đồng: Số tiền nợ gốc là 31.438.892.828VNĐ; Nợ lãi: 13.042.533.446VNĐ; Nợ lãi trên nợ gốc chậm trả: 1.480.292.292VNĐ. Theo Hợp đồng số 140 và các Phụ lục hợp đồng: Số tiền nợ gốc là 28.494.481.529VNĐ; Nợ lãi: 12.099.126.260VNĐ; Nợ lãi trên nợ gốc chậm trả: 1.341.482.517VNĐ. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi trên nợ gốc chậm trả theo 02 Hợp đồng tín dụng như trên là có căn cứ pháp luật, phù hợp với thoả thuận của các bên nên được chấp nhận. Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả số tiền nợ gốc, nợ lãi trong hạn và nợ lãi trên nợ gốc chậm trả là đúng quy định của pháp luật.

[3.2] Xét kháng cáo của bị đơn là ông Q1, bà H1 về việc không chấp nhận khoản tiền lãi tính trên số tiền nợ lãi trên lãi chậm trả theo Hợp đồng số 136 là 1.499.511.804VNĐ và theo Hợp đồng số 140 là 1.394.068.176VNĐ, xét thấy: Theo nội dung 02 Hợp đồng tín dụng đã ký giữa các bên và xác nhận của bị đơn về số tiền nợ lãi luỹ kế trong hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm của Hợp đồng số 136 và các Phụ lục hợp đồng là 13.042.533.446VNĐ và của Hợp đồng số 140 và các Phụ lục hợp đồng là 12.099.126.260VNĐ.

Khoản tiền lãi tính trên số nợ lãi trong hạn đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng là 10%/năm, phù hợp với quy định tại điểm b khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2026/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng và tại điểm a khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị quyêt số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định. Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả số tiền lãi chậm trả lãi trong hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm: Theo Hợp đồng số 136 là 1.499.511.804 đồng và Theo Hợp đồng số 140 là 1.394.068.176 đồng là có căn cứ pháp luật, phù hợp với thoả thuận của các bên nên được chấp nhận. Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả số tiền lãi chậm trả lãi trong hạn là đúng quy định của pháp luật.

[3.3] Xét Hợp đồng thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai, Số công chứng 4427/HĐTC, ngày 10/7/2017; Hợp đồng thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai, Số công chứng 4577/HĐTC, ngày 15/7/2017, xét thấy:

Thời điểm ký kết Hợp đồng thế chấp, ông Nguyễn Văn Q1 và bà Trần Thị H1 đã ký kết Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư Dự án Hòa Bình G Số 866/HĐMB/HĐGĐN ngày 27/6/2017 và Số 933/HĐMB/HĐGĐN ngày 10/7/2017 với Công ty H3; Hợp đồng có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật; Hai bên ký kết hoàn toàn tự nguyện, không bị lứa dối ép buộc. Hợp đồng được công chứng, đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại thành phố Hà Nội. Căn cứ khoản 2 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính Phủ, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính Phủ, Hợp đồng thế chấp có hiệu lực từ thời điểm giao kết. Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 05/4/2024 của Toà án, các căn hộ trong hợp đồng thế chấp đã được hình thành.

Ông Q1 và bà H1 đã tự nguyện thế chấp cho Ngân hàng 11 để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ theo 02 Hợp đồng tín dụng và các Phụ lục kèm theo hợp đồng trên. Do đó, trường hợp ông Q1 và bà H1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án xử lý các tài sản bảo đảm theo các Hợp đồng thế chấp đã ký kết giữa các bên, gồm 41 căn hộ tại Dự án Hòa Bình G DaNang và các nội dung thoả thuận trong 02 Hợp đồng mua bán căn hộ được ký kết giữa Công ty H3 (Chủ đầu tư) với ông Q1 và bà H1 trên để thu hồi nợ là có căn cứ và được chấp nhận.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Bản án dân sự sơ thẩm số 95/2024/DS-ST ngày 18/7/2024 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội đã xử là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật; kháng cáo của bị đơn là không có cơ sở nên không được chấp nhận.

[4] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp; bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Yêu cầu kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 38, Điều 147, Điều 148, khoản 2 Điều 244, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 463; 465, 466, 468, 317, 318, 319 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 và 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là ông Nguyễn Văn Q1, bà Trần Thị H1. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 95/2024/DS-ST ngày 18/7/2024 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn I đối với ông Nguyễn Văn Q1 và bà Trần Thị H1 về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp.

  1. Buộc ông Nguyễn Văn Q1 và bà Trần Thị H1 phải trả Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn IndoVina theo Hợp đồng tín dụng số 136/IVBMĐ-HĐDH/2017 ngày 10/7/2017 và các Phụ lục hợp đồng tín dụng kèm theo tính đến ngày 17/7/2024 tổng số tiền là 47.416.230.370 đồng (bốn mươi bảy tỷ, bốn trăm mười sáu triệu, hai trăm ba mươi nghìn, ba trăm bảy mươi đồng), trong đó: nợ gốc là 31.438.892.828 đồng; nợ lãi trong hạn là 13.042.533.446 đồng; nợ lãi trên nợ gốc chậm trả: 1.480.292.292 đồng; nợ lãi tính trên số tiền nợ lãi chậm trả là 1.499.511.804 đồng.

    Buộc ông Nguyễn Văn Q1 và bà Trần Thị H1 phải trả Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn IndoVina theo Hợp đồng tín dụng số 140/IVBMĐ-HĐDH/2017 ngày 15/7/2017 và các Phụ lục hợp đồng tín dụng kèm theo tính đến ngày 17/7/2024 tổng số tiền là 43.329.158.482 đồng (bốn mươi ba tỷ ba trăm hai mươi chín triệu một trăm năm mươi tám nghìn bốn trăm tám mươi hai đồng), trong đó: nợ gốc là 28.494.481.529 đồng; nợ lãi trong hạn là 12.099.126.260 đồng; nợ lãi trên nợ gốc chậm trả là 1.341.482.517 đồng; nợ lãi tính trên số tiền nợ lãi chậm trả là 1.394.068.176 đồng.

    Tổng số tiền gốc, lãi ông Nguyễn Văn Q1 và bà Trần Thị H1 phải trả Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn I theo 02 Hợp đồng tín dụng và các Phụ lục hợp đồng tín dụng kèm theo tính đến ngày 18/7/2024 là 90.790.388.852 đồng(chín mươi tỷ, bảy trăm chín mươi triệu, ba trăm tám mươi tám nghìn, tám trăm năm mươi hai đồng), trong đó: Nợ gốc là 59.933.374.357 đồng (năm mươi chín tỷ, chín trăm ba mươi ba triệu, ba trăm bảy mươi tư nghìn, ba trăm năm mươi bảy đồng); Nợ lãi là 30.857.014.495 đồng (ba mươi tỷ, tám trăm năm mươi bảy triệu, không trăm mười bốn nghìn, bốn trăm chín mươi lăm đồng). Ông Nguyễn Văn Q1 và bà Trần Thị H1 còn phải tiếp tục phải trả số tiền lãi phát sinh từ ngày 18/7/2024 đến khi ông Q1 và bà H1 thực tế trả hết nợ cho Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn IndoVina theo 02 Hợp đồng tín dụng và các Phụ lục hợp đồng tín dụng kèm trên.

  2. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Nguyễn Văn Q1 và bà Trần Thị H1 không trả đủ các khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn I có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là: Quyền sở hữu nhà ở của 19 căn hộ chung cư thuộc Dự án khu phức hợp Hòa Binh Green Đ, đường L, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng theo Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư Dự án Hòa Bình G số 933/HĐMB/HĐGÐN ngày 10/7/2017, ký kết giữa Công ty TNHH H3 với ông Nguyễn Văn Q1 và bà Trần Thị H1 (theo Hợp đồng thỏa thuận ba bên được ký kết giữa IVB - Chi nhánh M, Công ty H3 và ông Q1, bà H1 ngày 15/7/2017; Hợp đồng thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai ngày 15/7/2017, số công chứng 4577TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/7/2017, đăng ký giao dịch đảm bảo số 1255841036 ngày 18/7/2017); Quyền sở hữu nhà ở của 22 căn hộ chung cư thuộc Dự án khu phức hợp Hòa Binh Green Đ, đường L, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng theo Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư Dự án Hòa Bình Green Đa Nang số 866/HĐMB/HĐGĐN ngày 27/6/2017 ký kết giữa Công ty TNHH H3 với ông Nguyễn Văn Q1, bà Trần Thị H1 (theo Hợp đồng thỏa thuận ba bên được ký kết giữa IVB - Chi nhánh M, Công ty H3 và ông Q1, bà H1 ngày 10/7/2017); Hợp đồng thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai ngày 10/7/2017, số công chứng 4427TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/7/2017, đăng ký giao dịch đảm bảo số 1255098647 ngày 11/7/2017) để thu hồi các khoản nợ và thực hiện các nghĩa vụ theo nội dung các Hợp đồng.

    Trường hợp số tiền phát mại/thu hồi từ tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn I thì ông Nguyễn Văn Q1 và bà Trần Thị H1 còn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn I đến khi trả hết các khoản nợ.

  3. Về án phí: Ông Nguyễn Văn Q1 và bà Trần Thị H1 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 198.790.388 đồng (một trăm chín mươi tám triệu, bảy trăm chín mươi nghìn, ba trăm tám mươi tám đồng). Trả lại Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn IndoVina số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 95.000.000 đồng (chín mươi lăm triệu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án Số 0014023 ngày 30/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - TAND quận Hai Bà Trưng;
  • - Chi cục THADS quận Hai Bà Trưng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Cao Anh Tuấn

(Đã ký)

12

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 272/2025/DS-PT ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 272/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TNHH I - Ông Nguyễn Văn Q
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger