Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 272/2024/HS-ST

Ngày: 11-6-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Duy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Bích Thủy.
  2. Bà Lê Thị Nhanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Minh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lưu Hoài Chính - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm là trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu thành phần là trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, tiến hành xét xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 238/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2430/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 7317/2024/HSST-QĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn M, sinh năm 1988 tại tỉnh Cà Mau; Nơi đăng ký thường trú: Khóm A, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau. Nơi cư trú trước khi bị bắt: số A H, khu dân cư P, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Q (đã chết) và bà Huỳnh Tuyết T; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 129/2011/HSST ngày 27/5/2011, Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Bản án số 415/2014/HSST ngày 15/7/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (bị cáo chưa nộp án phí); Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 93/QĐ-TA ngày 14/3/2016, của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh với thời hạn 21 (hai mươi mốt) tháng; bị cáo bị tạm giam từ ngày 18/3/2023 tại Trại giam Công an thành phố Đ; bị cáo trích xuất có mặt tại điểm cầu thành phần.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Quá trình điều tra vụ án Trần Văn M bị khởi tố, tạm giam về tội “Làm, tàng trữ, lưu hành tiền giả”, ngày 18/12/2022, Cơ quan An ninh điều tra Công an thành phố Đ tiến hành khám xét nơi ở của Trần Văn M tại nhà số A, đường H, khu dân cư P, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, phát hiện tại phòng ngủ của M có cất giấu 01 linh kiện là khẩu súng tự chế tạo và nhiều bộ linh kiện lắp ráp súng và các loại đạn, nên lập biên bản thu giữ vật chứng. Đến ngày 22/11/2023, Cơ quan Anh ninh điều tra Công an Thành phố H tiếp nhận vụ việc và vật chứng, để điều tra theo thẩm quyền.

Kết quả điều tra xác định vào giữa tháng 9/2022, Trần Văn M truy cập vào 01 trang trên ứng dụng Facebook (M không nhớ tên trang mạng xã hội facebook) đăng tin bán các loại súng kèm hình ảnh minh họa, nên M nhắn tin hỏi mua 01 khẩu súng thể thao hiệu Rulo 22RL, giá 3.000.000 đồng, M cho số điện thoại của M (là sim rác, M không nhớ và không sử dụng) và hẹn giao súng tại nhà M, mục đích để sưu tầm. Sau 03 ngày, có người đàn ông (không rõ lai lịch) giao cho M 01 hộp hình chữ nhật bên ngoài quấn băng keo, Miên kiểm tra, bên trong có khẩu súng giống kiểu dáng đặt mua, nên đã trả 3.000.000 đồng cho người giao súng. Miên cất súng trong phòng ngủ. Sau đó, M tiếp tục liên hệ vào trang Facebook đặt mua các linh kiện mô hình súng; 04 viên đạn mô hình; 18 viên đạn cao su (9 x 22mm); 05 viên đạn cỡ (5,6 x 15,6mm) và 302 viên bi sắt, giá 400.000 đồng, được người đàn ông (không rõ lai lịch) giao cho M (thời gian giao hàng cách lần trước 02 ngày), M cất giấu chung với khẩu súng trong phòng ngủ, thì bị phát hiện thu giữ như trên.

Theo Kết luận giám định số 375/KL-KTHS ngày 16/01/2023 của Phân viện Khoa học hình sự Công an tại thành phố Đà Nẵng xác định: “01 linh kiện là khẩu súng tự chế tạo không theo tiêu chuẩn kỹ thuật, thiết kế của nhà sản xuất hợp pháp là vũ khí quân dụng; các mẫu linh kiện lắp ráp súng và các loại đạn không thuộc vũ khí quân dụng”

Vật chứng thu giữ:

  • 01 (một) khẩu súng ngắn quân dụng tự chế không có ký hiệu trên thân súng.
  • 01 (một) hộp tròn màu vàng có dòng chữ Butter Cookies bên trong chứa: 07 9bayr) linh kiện súng.
  • 01 (một) hộp tiếp đạn có gắn 04 viên đạn bằng kim loại, màu vàng đường kính 6mm.
  • 302 (ba trăm lẻ hai) viên bi bằng kim loại màu bạc.
  • 01 (một) hộp carton màu đen bên trên có nhãn hiệu “ZP-5”, bên trong chứa: 17 (mười bảy) linh kiện súng.
  • 01 (một) hộp nhựa màu xanh có dòng chữ “Navara”, bên trong chứa: 06 (sáu) linh kiện súng.
  • 01 (một) hộp nhựa màu vàng bên trong chứa: 03 (ba) linh kiện súng.

Tại Bản cáo trạng số 189/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 20/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Trần Văn M về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Trần Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố. Bị cáo thừa nhận việc Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” là đúng, không oan sai.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Văn M tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo, người làm chứng tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở khẳng định: Bị cáo Trần Văn M đã tàng trữ 01 khẩu súng tự chế tạo là vũ khí quân dụng, tại nhà số A đường H, khu dân cư P, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trần Văn M về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt Trần Văn M mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, phạt bổ sung 10.000.000 đồng; đồng thời đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung, bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và hình phạt:

Bị cáo Trần Văn M đã có hành vi cất giấu 01 linh kiện là khẩu súng tự chế tạo không theo tiêu chuẩn kỹ thuật, thiết kế của nhà sản xuất hợp pháp là vũ khí quân dụng tại nơi cư trú số A đường H, khu dân cư P, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là vũ khí quân dụng được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 1 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017, sửa đổi bổ sung năm 2019. Do vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm s khoản 1, Điều 51Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[4] Bị cáo Trần Văn M có nhân thân xấu từng bị Tòa án xử phạt tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, được áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, bị cáo nhận thức rõ hành vi “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” là trái pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự do Nhà nước quản lý. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo bằng mức án nghiêm mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, lao động tự do, nghề nghiệp không ổn định nên xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

[6] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 (một) khẩu súng ngắn quân dụng tự chế không có ký hiệu trên thân súng hiện do Bộ Tư lệnh Thành phố H bảo quản theo quy định: Đây là vật cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu, tiêu hủy.
  • Đối với 01 (một) hộp tròn màu vàng có dòng chữ Butter Cookies bên trong chứa: 07 (bảy) linh kiện súng; 01 (một) hộp tiếp đạn có gắn 04 viên đạn bằng kim loại, màu vàng đường kính 6mm; 302 (ba trăm lẻ hai) viên bi bằng kim loại màu bạc; 01 (một) hộp carton màu đen bên trên có nhãn hiệu “ZP-5”, bên trong chứa: 17 (mười bảy) linh kiện súng; 01 (một) hộp nhựa màu xanh có dòng chữ “Navara", bên trong chứa: 06 (sáu) linh kiện súng; 01 (một) hộp nhựa màu vàng bên trong chứa: 03 (ba) linh kiện súng, hiện do Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh bảo quản theo quy định: Đây là vật cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu, tiêu hủy.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm b khoản 2 Điều 1 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017, sửa đổi bổ sung năm 2019; khoản 1 Điều 2, khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 03/2022/NQ-HĐTP ngày 09 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:

Xử phạt bị cáo Trần Văn M 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”, thời hạn tù tính từ ngày 18/3/2023.

Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 64, Điều 66, Điều 68, Điều 70 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017, sửa đổi bổ sung năm 2019:

  • Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) khẩu súng ngắn quân dụng tự chế không có ký hiệu trên thân súng. Giao Bộ Tư lệnh Thành phố H thực hiện tiêu hủy theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017, sửa đổi bổ sung năm 2019.
  • (Vật chứng được lưu giữ tại Bộ Tư lệnh Thành phố H theo Lệnh nhập kho vật chứng số 18/2024.VC ngày 01/3/2024)

  • Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) hộp tròn màu vàng có dòng chữ Butter Cookies bên trong chứa: 07 9bayr) linh kiện súng; 01 (một) hộp tiếp đạn có gắn 04 viên đạn bằng kim loại, màu vàng đường kính 6mm; 302 (ba trăm lẻ hai) viên bi bằng kim loại màu bạc; 01 (một) hộp carton màu đen bên trên có nhãn hiệu “ZP-5”, bên trong chứa: 17 (mười bảy) linh kiện súng; 01 (một) hộp nhựa màu xanh có dòng chữ “Navara”, bên trong chứa: 06 (sáu) linh kiện súng; 01 (một) hộp nhựa màu vàng bên trong chứa: 03 (ba) linh kiện súng (tất cả linh kiện súng trên đã cũ nát, gãy bể).
  • (Vật chứng được lưu giữ tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/263 ngày 08/4/2024).

Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Phí và Lệ phí năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án: Buộc bị cáo Trần Văn M phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 335 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - Cục THADS TP.HCM;
  • - THAHS TP.HCM;
  • - Phòng PV06- CA TP.HCM;
  • - Bị cáo, đương sự;
  • - UBND xã/phường nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu: VT, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Phạm Ngọc Duy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 272/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 272/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger