Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 272/2024/HS-PT

Ngày: 21/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ký
  • Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh
  • Ông Trần Vĩnh Yên
  • Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trìu A Sám - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 141/2024/TLPT-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo Nguyễn Hoàng A do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HSST ngày 25/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Hoàng A, tên gọi khác: Không, sinh năm 1993 tại Đồng Nai; Nơi thường trú: Khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: 53/18, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hồng S, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1972. Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 02 anh em. Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt;

Ngoài ra còn có bị cáo Lê Đức H, bị hại anh Đỗ Quyết T1 không có kháng cáo, không bị kháng nghị Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 ngày 16-4-2022, Lê Đức H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vision, biển số 60B8-890.65 đi ngang nhà ông Nguyễn Phi H1 ngụ tại khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì ông H1 và H xảy ra tranh cãi, bực tức nên H điều khiển xe mô tô trên đến nhà của anh H2 Đỗ Đ (là người quen biết với H) ngụ tại số A, khu phố B, phường T, thành phố B để rủ Nguyễn Hoàng M (là bạn của H, đang ngồi nhậu tại nhà anh Đ) đi đánh ông H1 thì M đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe mô tô trên chở M về nhà H tại khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để lấy 01 (một) con dao tự chế dải khoảng 60cm đưa cho M, còn H mang theo 01 (một) con dao thái lan rồi cả hai quay lại nhà ông H1. Khi đến nơi, H dựng chiếc xe mô tô trên ở đường H và M cầm theo dao đi vào sân nhà ông H1, thách thức đánh nhữn thì ông H1 từ trong nhà đi ra, nhặt 01 (một) tuýp sắt màu xanh ở gần cửa, lúc này, M cầm dao tự chế xông vào đánh ông H1 nhưng không trúng, M bị ông H1 dùng cây sắt trên đánh vào tay M làm rớt con dao, ông H1 khống chế, trói M. Trong lúc M xông vào đánh ông H1 thì H bị Nguyễn Minh K (con ruột ông H1) từ trong nhà chạy ra nhặt 01 (một) tuýp sắt màu xanh đánh trúng vào đầu và dùi H làm té ngã, H nhặt con dao của M làm rớt định đánh K nhưng thấy K cùng một số người dân đi đến nên H cầm theo con dao trên bỏ chạy ra hẻm, điều khiển xe mô tô trên đến nhà anh Đ để tìm người giải cứu M. Khi đến nơi, H nói cho mọi người biết việc M bị ông H1 đánh, trói nên Nguyễn Hoàng A (anh ruột của M, đang ngồi nhậu tại nhà anh Đ) nói H chở Hoàng A đến nhà ông H1 để đánh lại những người đánh M, giải cứu cho M thì H đồng ý và đưa con dao tự chế cho Hoàng A. Sau đó, H điều khiển xe mô tô biển số 60B8-890.65 chở Hoàng A đến nhà ông H1. Khi đến nơi, H đến chỗ M bị trói (bậc thềm trước nhà ông H1) để cắt dây trói cho M. Còn Hoàng A cầm theo dao tự chế và S1 (Không rõ họ tên, địa chỉ, ngồi nhậu cùng với Hoàng A ở nhà Đ, biết việc M bị bắt nên đi theo Hoàng A và H để giải cứu cho M) cầm theo 01 (Một) tuýp sắt đi vào lối nhỏ bên cạnh nhà ông H1 thì gặp anh Đỗ Quyết T1 ngụ tại khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, do nghĩ anh T1 đã đánh M nên Hoàng A cầm dao tự chế, S1 cầm tuýp sắt xông về hướng anh T1 thì anh T1 lấy 01 (một) vì sắt (loại cầu dắt xe) chắn phía trước người, lúc này S1 dùng tuýp sắt đập 02 (hai) cái vào tấm vì sắt làm tuýp sắt trượt trúng đầu chị Phạm Thị Băng C (đang đứng cạnh anh T1) ngụ tại khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai bị thương; còn Hoàng A tay phải cầm con dao tự chế chém một nhát từ trên xuống trúng vào ngón tay ở bàn tay trái của anh T1 làm anh T1 thả tấm vỉ sắt xuống đất. Lúc này, Hoàng A tiếp tục dùng tay phải cầm dao tự chế chém một nhát từ trên xuống về hướng anh T1 trúng vào cẳng tay trái của anh T1 gây thương tích rồi cả nhóm bỏ đi. Sự việc xảy ra anh T1 được người dân đưa đến Bệnh viện Đ1 cấp cứu, ông H1 đến Công an phường T trình báo sự việc. Công an phường T lập hồ sơ, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B để điều tra, xử lý. Đến ngày 30-9-2022, Hoàng A và H bị khởi tố, xử lý.

Tại bản kết luận giám định số 0078/KLTTCT ngày 05/7/2022 của Trung tâm pháp y - Sở Y kết luận, kết luận bị hại Đỗ Quyết T1 bị thương tổn thương 19% do tổn thương nhánh vận động thần kinh quay bên trái; sẹo 1/3 cẳng tay trái kích thước 06cm x 0,3cm; Sẹo mổ cẳng tay trái kích thước 9,5cmx0,3cm; sẹo ngón 5 tay trái kích thước 01x0,1cm.

Tại bản án số 50/2024/HSST ngày 25/01/2024, Tòa án nhân dân thành phố B căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lê Đức H 03 năm tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng A 02 năm 06 tháng tù cùng về tội “Cố ý gây thương tích”.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 01 tháng 02 năm 2024, bị cáo Nguyễn Hoàng A kháng cáo xin hưởng án treo.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:

Cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường khắc phục hậu quả vụ án, được bị hại viết đơn bãi nại, xin miễn truy tố bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và đã xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng người đúng tội. Nguyên nhân của vụ việc xuất phát từ việc bị cáo nghe H báo em trai bị cáo là M bị người khác đánh rồi bắt giữ và H nói bị cáo cùng đi giải cứu M. Khi tới nơi thấy em trai bị trói thì anh T1 dơ vỉ sắt lên làm bị cáo lầm tưởng anh T1 ngăn chặn bị cáo cởi trói cho em trai nên bị cáo đã gây thương tích cho anh T1. Sau kháng cáo bị cáo cung cấp được tình tiết mới: Bị cáo là lao động chính, trụ cột trong gia đình trong gia đình, hiện đang phải nuôi cha mẹ già sức khỏe yếu có xác nhận của chính quyền địa phương. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Sau khi phạm tội đã ăn năn hối cải, xét thấy không cần thiết phải giam giữ mà cho bị cáo được hưởng án treo bị cáo giao chính quyền địa phương quản lý giáo dục bị cáo cũng đủ răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sơ nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận, vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 16/4/2022, tại đường nội bộ thuộc khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, sau khi Lê Đức H, Nguyễn Hoàng M đánh nhau với nhóm ông Nguyễn Phi H1 thì H bỏ chạy và về nhà báo lại cho Nguyễn Hoàng A việc em trai của Hoàng A là Nguyễn Hoàng M bị nhóm ông Nguyễn Phi H1 trói và đánh. Lê Đức H, Nguyễn Hoàng A và đối tượng S1 đã dùng 01 (một) tuýp sắt và 01 (một) con dao tự chế (dài khoảng 60cm). Khi đến nhà ông H1 thì Hoàng A, khi gặp anh Phạm Quyết T2 dơ vỉ sắt lên thì Nguyễn Hoàng A chém vào tay gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể cho anh T2 là 19% (mười chín phần trăm). Cấp sơ thẩm đã cân nhắc tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo, xem xét bị cáo H bỏ trốn theo lệnh truy nã, chưa bồi thường, khắc phục hậu quả, xử phạt bị cáo Lê Đức H 03 năm tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng A 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Nguyễn Hoàng A có nhiều tình tiết giảm nhẹ như chưa tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường, khắc phục hậu quả, phạm tội do bột phát, nhất thời. Bị hại có đơn bãi nại xin không khởi tố vụ án và xác nhận do hiểu nhầm nên dẫn đến hai bên xô xát nhau; Bị cáo Hoàng A khi thấy bị hại dơ vỉ sắt lên thì nhầm lẫn bị hại dùng vỉ sắt tấn công nên gây thương tích cho bị hại. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp chứng cứ mới gia đình có hoàn cảnh khó khăn, em trai bị tật, bị cáo là lao động chính trong gia đình có xác nhận của địa phương. Tại đơn xin bãi nại và xin không khởi tố (BL 164), bị hại cũng xác nhận bị cáo đã đền bù, bồi thường, thăm hỏi và bị hại hiểu được sự khó khăn của gia đình bị cáo, bị cáo là lao động chính trong gia đình; hai bên đều không kìm chế được sự nóng nảy, bốc đồng nên ẩu đả. Như vậy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nhân thân chưa tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu, bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách, pháp luật tại địa phương. Bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng và có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội. Do vậy, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[3] Quan điểm và đề nghị của của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng A, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HSST ngày 25/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

    Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    - Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng A 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

    Giao bị cáo Nguyễn Hoàng A cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 pháp Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

  2. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Hoàng A không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP. B;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. B;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự TP. B;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra - TP. B;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP. B;
  • - Bị cáo; UBND phường T, B;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng và Thẩm phán (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Ký

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trung Hưng

Vũ Thế Phương

Đinh Thị Kiều Lương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 272/2024/HS-PT ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về vụ án hình sự phúc thẩm về tội cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 272/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Hoàng A phạm tội Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger