Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 271/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27-12-2023
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Hồng Phương;

Ông Nguyễn Đức Kha;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 225/2023/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 232/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/10/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 183/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27/11/2023 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1992 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
  2. Bị đơn: Anh Thân Văn N, sinh năm 1987 (vắng mặt)
    Thường trú: Thôn C, xã M, huyện V, tỉnh Bắc Giang (Hiện đang lao động tại nước ngoài, không rõ địa chỉ).
    Địa chỉ cuối cùng của anh N tại Việt Nam: Thôn C, xã M, huyện V, tỉnh Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    Nguyễn Thị L, sinh năm 1965 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Vũ Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Trước khi kết hôn chị và anh N được tự do tìm hiểu, tự nguyện đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương, có đăng ký kết hôn ngày 19/01/2010 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống với nhau không hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng dẫn đến chị và anh N không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa, vợ chồng chị sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không còn hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Thân Văn N.

Về con chung: Chị và anh N có 02 con chung là cháu Thân Thị Hải Y, sinh ngày 07/3/2011 và Thân Thị Hải V, sinh ngày 29/6/2013. Hiện cháu Y đang sống cùng với mẹ anh Nghĩa 1 bà Nguyễn Thị L và cháu V đang sống cùng với chị. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng nuôi cháu V và đề nghị giao cho anh N nuôi cháu Y. Do anh N đang lao động ở nước ngoài nên chị đề nghị tạm giao cháu Y cho bà L nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi anh N về nước.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng chị không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết;

Về công nợ chung: Vợ chồng chị không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Thân Văn Nghĩa 11 bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L trình bầy: Chị H và anh N kết hôn năm 2010, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện V, tỉnh Bắc Giang, quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, mâu thuẫn trầm trọng từ tháng 10 năm 2022 nên chị H đã đưa cháu V về nhà mẹ đẻ sinh sống và để cháu Y cho bà chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến nay. Chị H, anh N có 02 con chung là Thân Thị Hải Y, sinh ngày 07/3/2011 và Thân Thị Hải V, sinh ngày 29/6/2013, hiện cháu Y đang sống cùng với bà và cháu V đang sống cùng với chị H.

Sau khi nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, bà đã thông báo cho anh N biết nhưng anh N không gửi văn bản trình bày ý kiến về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và từ chối cung cấp địa chỉ hiện tại của anh N tại nước ngoài. Anh N có trao đổi với bà, anh N có nguyện vọng nuôi cháu Thân Thị Hải Y và đề nghị tạm giao cháu Y cho bà chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh N ở nước ngoài. Anh N đồng ý để chị H nuôi cháu Thân Thị Hải V. Bà đồng ý nhận nuôi dưỡng cháu Thân Thị Hải Y trong thời gian anh N ở nước ngoài.

Cháu Thân Thị Hải Y trình bày: Hiện nay cháu đang sinh sống cùng bà nội là Nguyễn Thị L, nếu bố mẹ ly hôn cháu muốn ở cùng bố N và bà nội là Nguyễn Thị L trong thời gian bố N ở nước ngoài.

Cháu Thân Thị Hải V trình bày: Hiện nay cháu đang sinh sống cùng mẹ H, nếu bố mẹ ly hôn cháu muốn ở cùng mẹ H.

Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Vũ Thị H và bà Nguyễn Thị L vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Thân Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt.

Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Vũ Thị H, biên bản làm việc, biên bản lấy lời khai bà Nguyễn Thị L, biên bản lấy lời khai cháu Thân Thị Hải Y, cháu Thân Thị Hải V và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chị Vũ Thị H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn anh Thân Văn N không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với bị đơn. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

Về hôn nhân: Cho chị Vũ Thị H được ly hôn anh Thân Văn N.

Về nuôi con chung: Giao cháu Thân Thị Hải Y, sinh ngày 07/3/2011 cho anh Thân Văn N chăm sóc nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, nhưng tạm giao cho bà Nguyễn Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh N ở nước ngoài.

Giao cháu Thân Thị Hải V, sinh ngày 29/6/2013 cho chị Vũ Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000đ tiền án phí được trừ vào số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thẩm quyền giải quyết, quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Vũ Thị H khởi kiện xin ly hôn anh Thân Văn N và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Anh N hiện đang ở nước ngoài không có địa chỉ cụ thể của anh N. Theo Công văn trả lời số: 26563/QLXNC-P3 ngày 09/10/2023 của Cục Q-Bộ C cung cấp, anh N xuất nhập cảnh 03 lần, lần xuất cảnh gần nhất ngày 18/11/2022, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do vụ án có bị đơn anh N hiện nay đang ở nước ngoài. Địa chỉ cuối cùng của anh N ở Việt Nam tại: thôn C, xã M, huyện V, tỉnh Bắc Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2].Về việc vắng mặt của đương sự:

Đối với nguyên đơn chị Vũ Thị H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L: Chị H và bà L đều có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị H và bà L.

Về việc vắng mặt của bị đơn anh Thân Văn N: Căn cứ theo lời khai của nguyên đơn, bà L là mẹ anh N, Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú cuối cùng của anh N trước khi xuất cảnh lần gần nhất ở thôn C, xã M, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án cho anh N thông qua người thân của anh Nghĩa 11 bà Nguyễn Thị L (mẹ đẻ anh N) và đề nghị bà L thông báo cho anh N biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa nguyên đơn là chị Vũ Thị H và bị đơn là anh Thân Văn N. Bà L cho biết anh N vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng anh N không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của anh N tại nước ngoài. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị H và anh Thân Văn N kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 19/01/2010 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng chị H, anh N phát sinh nhiều mâu thuẫn nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Thân Văn N.

Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Vũ Thị H đối với anh Thân Văn N. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị H, anh N chung sống với nhau không hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Ngoài ra, mẹ đẻ anh Nghĩa là bà L cũng xác định vợ chồng anh N, chị H xảy ra mâu thuẫn nên vợ chồng anh, chị đã sống ly thân. Vợ chồng chị H, anh N hiện nay không còn liên lạc, không còn quan tâm đến nhau nữa, ai có cuộc sống riêng của người đó. Do đó, Hội đồng xét xử xác định vợ chồng chị H, anh N không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 53, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh N, xử cho chị H được ly hôn anh N như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.

[4]. Về nuôi con chung: Chị H, anh N có 02 con chung là cháu Thân Thị Hải Y, sinh ngày 07/3/2011 và Thân Thị Hải V, sinh ngày 29/6/2013. Sau khi ly hôn chị H có nguyện vọng chăm sóc, nuôi dưỡng cháu V và đề nghị giao cháu Y cho anh N chăm sóc, nuôi dưỡng, nhưng tạm giao cháu cháu Y cho bà L là mẹ đẻ anh N chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh N ở nước ngoài. Cháu Y có nguyện vọng được ở cùng bố, cháu V có nguyện vọng được ở cùng mẹ.

Xét yêu cầu nuôi con chung của chị H: Hội đồng xét xử thấy hiện cháu Y đang sống cùng với bà L, cháu V đang sống cùng với chị H. Hiện cháu Y và cháu V phát triển bình thường cả về thể chất lẫn tinh thần. Ngoài ra, cháu V trên 07 tuổi có nguyện vọng ở với mẹ, cháu Y có nguyện vọng ở với bố nếu bố mẹ ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của chị H, giao cháu Thân Thị Hải V cho chị H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu Thân Thị Hải Y cho anh Nghĩa là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật là phù hợp quy định pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích của con chung và nguyện vọng của cháu V và cháu Y. Do hiện nay anh N đang ở nước ngoài nên chị H đề nghị tạm giao cháu Y cho bà Nguyễn Thị L là mẹ đẻ anh N nuôi dưỡng trong thời gian anh N ở nước ngoài, bà L đồng ý nuôi dưỡng cháu Y trong thời gian anh N ở nước ngoài, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 104 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu này của chị H. Tạm giao cháu Y cho bà L nuôi dưỡng trong thời gian anh N ở nước ngoài là phù hợp và đảm bảo quyền lợi mọi mặt của cháu Y cũng như quyền và nghĩa vụ của ông, bà đối với cháu chưa thành niên.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

[5].Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị H, bà L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6].Về tài sản, công nợ chung: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[7].Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

[8]. Về quyền kháng cáo:

Chị Vũ Thị H, bà Nguyễn Thị L vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở trong nước, nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Thân Văn N vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở nước ngoài, nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn là 01 tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

  1. Về hôn nhân: Chị Vũ Thị H được ly hôn anh Thân Văn N.
  2. Về nuôi con chung: Giao cháu Thân Thị Hải V, sinh ngày 29/6/2013 cho chị Vũ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Giao cháu Thân Thị Hải Y, sinh ngày 07/3/2011 cho anh Thân Văn N nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật nhưng tạm giao cháu Thân Thị Hải Y cho bà Nguyễn Thị L nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong thời gian anh N ở nước ngoài.

    Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở chị H, anh N thực hiện quyền này.

  3. Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000009 ngày 09/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Vũ Thị H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4.Về quyền kháng cáo bản án:

Chị Vũ Thị H, bà Nguyễn Thị L, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Anh Thân Văn N có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • -UBND xã Minh Đức, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang;
  • -Cổng thông tin điện tử TAND;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu hồ sơ vụ án;
  • -Lưu Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Thị Thu Hiền

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 271/2023/HNGĐ-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 271/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị H và anh N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger