TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 271/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26 - 4 - 2024
V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con
khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Văn Chiến
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Văn Tác
- Ông Võ Văn Tám
Thư ký phiên toà: Ông Trần Thiện Nhân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện tham gia phiên toà: ông Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên sơ cấp
Trong ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 180/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và Gia đình “ Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 110/QĐST -HNGĐ, ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 2002.
- Bị đơn: anh Ngô Phước H, sinh năm 1997.
Nơi cư trú: tổ G, ấp T, xã T, huyện P, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0934.130.xxx;
Nơi cư trú: tổ F, ấp T, xã T, huyện P, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0977.797.xxx;
(chị T xin vắng mặt, anh H vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình hòa giải, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim T trình bày:
Chị và anh Ngô Phước H tự tìm hiểu quen biết một thời gian được hai bên gia đình đồng ý, tổ chức lễ cưới năm 2020 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 09 ngày 19 tháng 02 năm 2021.
Sau khi cưới vợ chồng sống chung với gia đình chị được một thời gian, vợ chồng cùng đi làm thuê ở tỉnh Bình Dương, đến khi chị mang thai phát sinh mâu thuẫn về chuyện tiền bạc, vợ chồng không có tiếng nói chung, đến khoảng tháng 10/2021 thì anh H xảy ra cự cãi với cha chị, từ đó anh H bỏ đi rồi vợ chồng ly thân cho đến nay. Thời gian ly thân anh H không về thăm vợ con lần nào, cũng không liên lạc hỏi thăm hay cấp dưỡng cho con, không có trách nhiệm với vợ con nên vợ chồng không hàn gắn được. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với anh Ngô Phước H.
Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Minh K, sinh ngày 10/7/2021, hiện chị đang nuôi dưỡng. Nay ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con, chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Toá án giải quyết.
* Anh Ngô Phước H vắng mặt từ khi Toà án thụ lý vụ án nên không có ý kiến trình bày
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật, tuy nhiên anh H vắng mặt suốt quá trình tố tụng là chấp hành pháp luật chưa nghiêm, anh cũng được tống đạt triệu tập để nghe xét xử đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt, chị T có đơn xin vắng mặt và có ý kiến trình bày rõ ràng yêu cầu của mình, do đó đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xét xử vắng mặt anh H và chị T theo Điều 227 và Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Hôn nhân của anh, chị do hai người tìm hiểu được gia đình hai bên đồng ý, tổ chức lễ cưới năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh An Giang, thời gian đầu chung sống hạnh phúc bên gia đình chị T, sau đó vợ chồng cùng đi làm thuê ở tỉnh Bình Dương, đến khi chị T mang thai phát thì sinh mâu thuẫn về chuyện tiền bạc, đến khoảng tháng 10/2021 thì anh H cự cãi với cha chị T, từ đó anh H bỏ đi rồi vợ chồng ly thân cho đến nay. Thời gian ly thân anh H không về thăm chị T và con, không có thiện chí hàn gắn, từ đó tình cảm vợ chồng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị T yêu cầu ly hôn với anh H là có căn cứ, phù hợp với lời trình bày của bà Nguyễn Thị C (mẹ ruột chị T), đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét chấp nhận.
- Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Minh K, sinh ngày 10/7/2021, hiện chị T đang nuôi dưỡng. Nay ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con, chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng cho con. Nhận thấy việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn, vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với con chưa thành niên, cháu K sống với chị T cũng được nuôi dưỡng chăm sóc đảm bảo, cháu dưới 36 tháng tuổi, do đó đề nghị hội đồng xét xử (HĐXX) giao cháu K cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng cho con như ý kiến của chị T cũng phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Về tài sản chung và nợ chung: không có tranh chấp nên không giải quyết
Đồng thời buộc các đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về người tham gia tố tụng: nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim T yêu cầu được vắng mặt khi xét xử, chị có ý kiến trình bày rõ ràng yêu cầu của mình, bị đơn anh Ngô Phước H được tống đạt triệu tập lần thứ 2 để nghe xét xử, nhưng anh không có mặt; việc vắng mặt của anh, chị không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, nên HĐXX xét xử vắng mặt anh, chị theo Điều 227 và Điều 228 Bộ Luật Tố tụng dân sự để đảm bảo quyền lợi cho các bên.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: hiện nay anh H cư trú tại: ấp T, xã T, huyện P, tỉnh An Giang, nên chị T khởi kiện xin ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Về quan hệ tranh chấp: chị T xin ly hôn và giải quyết việc nuôi con nên quan hệ tranh chấp là “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khỏan 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện, hôn nhân của anh, chị do hai người tự tìm hiểu được cha mẹ hai bên đồng ý tổ chức lễ cưới năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh An Giang, thời gian đầu chung sống hạnh phúc bên gia đình chị T, sau đó vợ chồng cùng đi làm thuê ở tỉnh Bình Dương, khi chị T mang thai thì phát sinh mâu thuẫn về chuyện tiền bạc, đến khoảng tháng 10/2021 anh H cự cãi với cha chị T, từ đó anh H bỏ đi rồi vợ chồng ly thân cho đến nay. Thời gian ly thân anh H không về thăm chị T và con, không có thiện chí hàn gắn, từ đó tình cảm vợ chồng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị T yêu cầu ly hôn với anh H là có căn cứ, phù hợp với lời trình bày của bà Nguyễn Thị C (mẹ ruột chị T), để anh chị có cuộc sống riêng sau này, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của T theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Minh K, sinh ngày 10/7/2021, hiện chị T đang nuôi dưỡng. Nay ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con, chị
không yêu cầu anh H cấp dưỡng cho con. Xét thấy việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn, vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với con chưa thành niên, cháu K sống với chị T cũng được nuôi dưỡng chăm sóc đảm bảo, cháu dưới 36 tháng tuổi, do đó hội đồng xét xử giao cháu K cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng cho con như ý kiến của chị T cũng phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Về tài sản chung và nợ chung: không có tranh chấp nên không giải quyết
[3] Về án phí: chị Nguyễn Thị Kim T là người xin ly hôn, nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Điều 56 và Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015;
- - Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;
- - Căn cứ Điều 26, khoản 5 Điều 27, Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim T đối với anh Ngô Phước H.
- - Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị Kim T được ly hôn với anh Ngô Phước H.
- - Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Nguyễn Minh K, sinh ngày 10/7/2021 cho chị Nguyễn Thị Kim T nuôi dưỡng đến thành niên hoặc tự lập được, anh Ngô Phước H không phải cấp dưỡng cho con.
- - Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: không có.
- - Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Nguyễn Thị Kim T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006742 ngày 14/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, anh Ngô Phước H không phải chịu án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án.
Trường hợp bản án, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sư, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Chiến |
Bản án số 271/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 271/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim T đối với anh Ngô Phước H.
