Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 271/2024/HS-ST

Ngày 18-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hạnh

Bà Phạm Thị Thanh Hiên

Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Lan Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 261/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1001/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Đỗ Thanh B, sinh năm 1996 tại Hải Phòng. Nơi đăng ký thường trú: thôn Đ, xã L, huyện V, Hải Phòng; nơi ở: số F P, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn K và bà Phạm Thị K1; có vợ là Nguyễn Thị H (đã ly hôn), có 01 con; có 01 tiền án (chưa được xóa án tích): Bản án số 112/2023/HSST ngày 24/7/2023 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền xử phạt 220.000.000 đồng về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/5/2024; có mặt.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Hoàng B1, sinh năm 1983; địa chỉ: 2 L, phường L, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 02/5/2024, anh Nguyễn Hoàng B1 đến Công an quận L trình báo về việc: Do có khó khăn về tài chính nên ngày 12/4/2024, anh B1 vào mạng xã hội Facebook tìm bài đăng cho vay tiền rồi để lại số điện thoại tư vấn. Cùng ngày, có 02 thanh niên liên hệ và đến gặp anh B1 để thỏa thuận cho vay tiền. Hai bên thỏa thuận, anh B1 vay 5.000.000 đồng, trả trong vòng 01 tháng cả gốc lẫn lãi là 6.000.000 đồng. Sau đó, anh B1 đã được chuyển 4.600.000 đồng vào tài khoản. Nhận thấy, những người cho vay tiền có dấu hiệu của việc cho vay lãi nặng nên anh B1 đã đến Cơ quan Công an trình báo sự việc.

Quá trình điều tra xác định:

Trong khoảng thời gian từ 12/4/2024 đến 30/4/2024, Đỗ Thanh B có cho một số người vay tiền có lãi suất cao hơn quy định. Để thực hiện hành vi của mình, B có thuê 02 nhân viên phụ giúp là Trịnh Xuân D; sinh năm: 1998; nơi cư trú: Thôn A, C, V, Hải Phòng và Đỗ Duy T; sinh năm: 2000; nơi cư trú: số F Chợ H, phường D, quận L, Hải Phòng. D và T có nhiệm vụ đi xác minh thông tin của người vay, giục khách đóng tiền lãi khi B yêu cầu. Ngoài ra, B còn giao dịch mua trên Facebook của người không quen biết 01 tài khoản ngân hàng V số 1032435079 mang tên Nguyễn Thị Thanh T1 để thực hiện các giao dịch chuyển tiền, tránh bị phát hiện. B đã cho một số người vay tiền như sau:

Vụ thứ nhất:

Ngày 12/4/2024, do có nhu cầu vay tiền, anh Nguyễn Hoàng B1, sinh năm 1983, nơi cư trú: 2 L, phường L, quận L, Hải Phòng vào mạng xã hội Facbook nhắn tin với trang Facebook "Dịch vụ cho vay tiền nhanh Hải Phòng" của Đỗ Thanh B hỏi vay tiền. Sau đó, B sử dụng số điện thoại 0936.553.xxx gọi điện hẹn gặp anh B1 ở nhà anh B1 để tư vấn khoản vay. Đến khoảng 12 giờ 45 phút cùng ngày, B cùng Trịnh Xuân D đến nhà tư vấn cho anh B1 về khoản vay. Hai bên thống nhất anh B1 vay của B số tiền 5.000.000 đồng trả trong vòng 30 ngày. Bách phải mất 200.000 đồng tiền phí thẩm định khoản vay. Mỗi ngày trả 200.000 đồng trong đó có 33.333 đồng tiền lãi và 166.667 đồng tiền gốc. Nếu chậm trả tiền gốc và lãi thì sẽ bị phạt với mức 200.000 đồng/01 ngày. Anh B1 cung cấp tài khoản ngân hàng V1 số [...] và đưa căn cước công dân cho B.

Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, B sử dụng tài khoản ngân hàng V số 1032435079 mang tên Nguyễn Thị Thanh T1 chuyển đến tài khoản ngân hàng V1 số [...] của anh B1 số tiền 4.600.000 đồng (đã trừ 200.000 đồng tiền phí thẩm định hồ sơ vay và 200.000 đồng tiền gốc và lãi ngày 12/4/2024). Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Đỗ Duy T đến gặp yêu cầu anh B1 viết giấy vay số tiền 6.000.000 đồng.

Sau khi vay tiền thì anh B1 đã trả hết số tiền 6.000.000 đồng cho B bằng hai hình thức là chuyển tiền từ khoản ngân hàng V1 số [...] của B1 vào tài khoản ngân hàng V số 1032435079 tên Nguyễn Thị Thanh T1 và trả tiền mặt cho B. Ngoài ra, anh B1 có 03 ngày trả tiền chậm nên bị phạt 600.000 đồng. Anh B1 đã chuyển số tiền phạt vào tài khoản ngân hàng T3 số 2689666868 của Trịnh Xuân D. Số tiền này, D đã chuyển lại cho B vào tài khoản ngân hàng V số 1032435079 tên Nguyễn Thị Thanh T1.

Như vậy: Tổng số tiền Đỗ Thanh B cho anh Nguyễn Hoàng B1 vay lãi là 5.000.000 đồng, trả trong vòng 30 ngày. Mỗi ngày anh B1 trả B 200.000 đồng cả tiền gốc và tiền lãi. Số tiền B thu về là 6.000.000 đồng (bao gồm: tiền gốc 5.000.000 đồng và tiền lãi 1.000.000 đồng). Ngoài ra, B còn thu lợi của B1 800.000 đồng (bao gồm: 200.000 đồng tiền phí thẩm định hồ sơ vay, 600.000 đồng tiền nộp phạt do chậm trả tiền 03 ngày).

Theo quy định về “Lãi suất” tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự cho phép các bên thỏa thuận về lãi suất nhưng không được vượt quá là 20%/năm của khoản tiền vay. Như vậy, trong tổng số tiền lãi 1.000.000 đồng (tương ứng lãi suất 243,3%/01 năm, gấp 12,16 lần quy định tại Bộ luật Dân sự) thì có 20% lãi suất hợp pháp. Bởi vậy, cần phải trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất hợp pháp 20%/01 năm. Số tiền lãi còn lại được xác định là thu lợi bất chính. Cụ thể như sau:

Tổng số tiền lãi B thu lợi bất chính của B1 được xác định là: 1.000.000 đồng - 82.192 đồng + 800.000 đồng = 1.717.808 đồng.

Vụ thứ hai:

Do có nhu cầu vay tiền, anh Nguyễn Văn H1, sinh năm: 1976 nơi cư trú: V, H, K, Hải Phòng đã nhiều lần liên hệ với tài khoản Zalo tên “Ban tien” của B để hỏi vay tiền. Tuy nhiên, anh H1 không nhớ cụ thể số tiền vay cũng như số lãi đã trả của những lần vay trước. Ngày 30/4/2024, anh H1 tiếp tục liên hệ với B hỏi vay 10.000.000 đồng. B cho Đỗ Duy T và Trịnh Xuân D đến gặp anh H1 tại xã H, K để tư vấn khoản vay. Hai bên thống nhất cho anh H1 vay 10.000.000 đồng trả trong vòng 40 ngày. Tiền phí thẩm định khoản vay 300.000 đồng, mỗi ngày trả 300.000 đồng trong đó có 250.000 đồng tiền gốc và 50.000 tiền lãi. Sau đó, Đỗ Duy T hướng dẫn anh H1 viết giấy vay số tiền 12.000.000 đồng và anh H1 đưa Căn cước công dân của mình cho D. Đến khoảng 20 giờ 00 cùng ngày, B sử dụng tài khoản ngân hàng V số 1032435079 tên Nguyễn Thị Thanh T1 chuyển số tiền 6.700.000 đồng vào tài khoản ngân hàng O của anh H1 số 0355696973 (đã trừ 3.000.000 đồng tiền gốc và lãi của 10 ngày và 300.000 đồng tiền phí thẩm định hồ sơ vay). Sau khi vay tiền, anh H1 đã trả hết 12.000.000 đồng cho B bằng hai hình thức là ra các điểm dịch vụ chuyển tiền chuyển vào tài khoản ngân hàng V số 1032435079 tên Nguyễn Thị Thanh T1 và trả tiền mặt cho B.

Như vậy: Tổng số tiền Đỗ Thanh B cho anh Nguyễn Văn H1 vay lãi là 10.000.000 đồng, trả trong vòng 40 ngày. Mỗi ngày anh H1 trả B 300.000 đồng (trong đó: 250.000 đồng tiền gốc, 50.000 đồng tiền lãi). Số tiền gốc B thu về là 10.000.000 đồng, số tiền lãi B thu về là 2.000.000 đồng. Ngoài ra, B còn thu lợi của B1 số tiền 300.000 đồng tiền phí thẩm định hồ sơ vay.

Theo quy định về “Lãi suất” tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự cho phép các bên thỏa thuận về lãi suất nhưng không được vượt quá là 20%/năm của khoản tiền vay. Như vậy, trong tổng số tiền lãi 2.000.000 đồng (tương ứng lãi suất 182,5%/01 năm, gấp 9, 125 lần quy định tại Bộ luật Dân sự) có 20% lãi suất hợp pháp. Bởi vậy, cần phải trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất hợp pháp 20%/01 năm. Số tiền lãi còn lại được xác định là thu lợi bất chính. Cụ thể như sau:

Tiền lãi B đã nhận từ anh H1 là 2.000.000 đồng. Khoản tiền tương ứng với mức lãi suất hợp pháp 20%/01 năm là: (20% x 10.000.000 đồng): 365 ngày x 40 ngày) = 219.178 đồng.

Tổng số tiền lãi B thu lợi bất chính của anh H1 được xác định là: 2.000.000 đồng - 219.178 đồng + 300.000 đồng = 2.080.822 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã tiến hành sao kê tài khoản ngân hàng V số 1032435079 tên Nguyễn Thị Thanh T1, tài khoản cá nhân của Nguyễn Văn H1, Đỗ Thanh B, Trịnh Xuân D đều thể hiện có việc chuyển tiền từ các tài khoản ngân hàng như trên.

Quá trình điều tra, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Hoàng B1, Nguyễn Văn H1 khai có sự việc vay lãi của Đỗ Thanh B phù hợp với nội dung nêu trên.

Trịnh Xuân D và Đỗ Duy T khai: D và T được B thuê xác minh nhân thân người vay và giục khách đóng tiền. Cả D và T đều biết việc B cho vay lãi cao hơn quy định của pháp luật. Ngoài ra, D còn giao nộp 01 sim điện thoại số 0936.659.xxx là số điện thoại B đưa để D sử dụng liên hệ với khách.

Ngày 02/5/2024, Cơ quan điều tiến hành triệu tập Đỗ Thanh B đến làm việc. Quá trình điều tra, Đỗ Thanh B khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên. Ngoài ra, B đã giao nộp 01 điện thoại Iphone 14 Pro max có gắn sim số 0906.706.866 là điện thoại B sử dụng để liên lạc phục vụ cho vay lãi.

Đối với Đỗ Duy T và Trịnh Xuân D có hành vi đồng phạm với Đỗ Thanh B cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Xét thấy, T và D nhân thân chưa có tiền án, tiền sự nên chưa đủ căn cứ để xử lý hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra trình chủ tịch Ủy ban nhân dân quận L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Không đăng ký ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự mà cho vay tiền có cầm cố tài sản hoặc không cầm cố tài sản nhưng lãi suất cho vay vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự” quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ quy định về xử phạt an ninh trật tự, an toàn xã hội.

Đối với tài khoản ngân hàng V số 1032435079 tên Nguyễn Thị Thanh T1, quá trình điều tra xác định của chị Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm: 1996, nơi cư trú: Thôn A, Minh T2, T, Hải Phòng. Trước đây, chị T1 có sử dụng tài khoản ngân hàng này, tuy nhiên khoảng 02 năm trước chị không còn sử dụng tài khoản này và số điện thoại để đăng ký tài khoản này nữa. Chị T1 không quen biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của Đỗ Thanh B. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ xử lý.

Đối với các số thuê bao di động 0906786866, 0936553552, 0936659565, 0936683684, 0869592348 mà bị can và các đối tượng sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Lệnh thu giữ điện tín nhưng chưa có kết quả trả lời. Khi có kết quả trả lời của các số thuê bao trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra điều tra, xác minh làm rõ sau.

Bản Cáo trạng số 269/CT-VKS ngày 09/10/2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Đỗ Thanh B về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Thanh B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Đỗ Thanh B và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đỗ Thanh B 55.000.000 đồng đến 65.000.000 đồng về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

  • Đối với số tiền gốc 15.000.000 đ, anh B1 và anh H1 vay đã trả đủ cho B, đây là phương tiện phạm tội nên đề nghị tuyên buộc bị cáo B phải nộp vào ngân sách nhà nước.
  • Đối với số tiền lãi tương ứng với lãi suất cao nhất 20% theo quy định của Bộ luật Dân sự là 301.370 đồng là tiền do phạm tội mà có nên đề nghị tuyên B phải nộp vào ngân sách nhà nước
  • Đối với số tiền thu lợi bất chính đề nghị tuyên buộc bị cáo B phải trả lại cho người vay: Trả lại cho ông Nguyễn Văn H1 số tiền 2.000.000 đồng; ông Nguyễn Hoàng B1 không yêu cầu B trả lại số tiền thu lợi bất chính nên đề nghị không xét.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước 1 chiếc điện thoại Iphone 14 Pro max có gắn sim số 0906706866 thu giữ của bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện là đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự:

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của những người liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang, báo cáo bắt giữ của lực lượng công an, vật chứng thu giữ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Trong khoảng thời gian từ 12/4/2024 đến 30/4/2024, Đỗ Thanh B đã cho anh Nguyễn Văn H2 và Nguyễn Hoàng B1 vay lãi tổng số tiền 15.000.000 đồng với lãi suất cho vay tương đương 243,3%/01 năm, gấp 12,16 lần so với mức lãi suất quy định tại Bộ luật Dân sự và 182,5%/năm, gấp 9,125 lần so với mức lãi suất quy định tại Bộ luật Dân sự. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 3.798.630 đồng, do bị cáo có 1 tiền án về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” chưa được xoá án nên hành vi của bị cáo đã thoả mãn cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an; bị cáo phạm tội nhằm mục đích thu lời bất chính nên cần xét xử bị cáo một mức án nghiêm để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[4] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5] Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên, bị cáo và đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền. Xét bị cáo có đủ khả năng để áp dụng hình phạt tiền nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt cảo tạo, cách ly đối với bị cáo mà chỉ cần áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đảm bảo tính răn đe và phù hợp với quy định tại Điều 190 Bộ luật hình sự.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Do bị cáo đã bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự:

[8] Đối với số tiền gốc 15.000.000 đ, anh B1 và anh H1 vay đã trả đủ cho B, đây là phương tiện phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Buộc bị cáo B phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 15.000.000 đồng.

[9] Đối với số tiền lãi tương ứng với lãi suất cao nhất 20% theo quy định của Bộ luật Dân sự là 301.370 đồng là tiền do phạm tội mà có nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự buộc bị cáo B phải nộp vào ngân sách nhà nước

[10] Đối với số tiền thu lợi bất chính căn cứ điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự buộc bị cáo B phải trả lại cho người vay: Trả lại cho ông Nguyễn Văn H1 số tiền 2.000.000 đồng; ông Nguyễn Hoàng B1 không yêu cầu B trả lại số tiền thu lợi bất chính nên Hội đồng xét xử không xét.

- Về xử lý vật chứng:

[11] Đối với 1 chiếc điện thoại Iphone 14 Promax có gắn sim số 0906706866 sử dụng để liên lạc phục vụ cho vay nặng lãi, xét là công cụ phương tiện phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

- Về các vấn đề khác:

[12] Cần hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đối với bị cáo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[13] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[14] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thanh B phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

- Xử phạt bị cáo Đỗ Thanh B 55.000.000 đ (năm mươi lăm triệu đồng). Bị cáo đã nộp đủ số tiền trên theo biên lai thu tiền số 0003293 ngày 18/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự:

  • Buộc bị cáo Đỗ Thanh B phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 15.000.000 đồng là tiền nợ gốc người vay đã trả.
  • Buộc bị cáo Đỗ Thanh B: Trả lại cho ông Nguyễn Văn H1 số tiền 2.000.000 là tiền thu lợi bất chính từ khoản vay của ông H1.
  • Buộc bị cáo Đỗ Thanh B nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 301.370 đồng là tiền lãi tương ứng với lãi suất cao nhất 20% theo quy định của Bộ luật Dân sự.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 14 Pro max có gắn sim số 0906.706.866 đã qua sử dụng.

(Theo biên bản giao, nhận tài sản vật chứng ngày 09/10/2024 giữa Công an quận L và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng;).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - VKSND thành phố;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Công an quận Lê Chân;
  • - Phòng PV06; PC10;
  • - THA hình sự;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - Sở tư pháp;
  • - Trại tạm giam CA tp Hải Phòng;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 271/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm (cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)

  • Số bản án: 271/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thanh B cho vay lãi nặng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger