Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 271/2024/HS-PT

Ngày: 23 – 10 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Chí Dũng.
Ông Lê Khắc Thịnh.

- Thư ký phiên tòa:

Bà Phan Thị Kim Loan- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Minh Trí - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 16; 25 tháng 9 và ngày 23 tháng 10 của năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 205/2024/TLPT-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Lê Nhật B, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2024/HS-ST ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.

Bị cáo có kháng cáo:

Lê Nhật B, sinh ngày 20/01/2000 tại tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú: Ấp P, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở: Số E, đường N, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay (bị cáo khai tại phiên toà phúc thẩm): Tổ A, ấp P, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Tiến H, sinh năm 1972 (sống) và con bà Phan Thị T, sinh năm 1977 (sống); vợ con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; tạm giữ: Không; tạm giam: Không. Bị cáo hiện đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho bị cáo Lê Nhật B:

Luật sư Vũ Mạnh H1- Công ty L (có mặt).

Địa chỉ: B, Topaz T, đường số A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Bị hại: Phạm Văn N (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

Bà Trần Thụy Mỹ X, sinh năm 1982 (vợ của bị hại, có mặt).

Nơi cư trú: Số A, ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà X:

Luật sư Dương Thành C – Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

Địa chỉ: Số A, T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người làm chứng:

  1. Bà Phan Thị T, sinh năm 1977 (mẹ của bị cáo, có mặt).
    Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
  2. Anh Đàm Quang T1, sinh năm 1992 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Số B, đường N, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Bà Hồ Như T2, sinh năm 1973 (vắng mặt các phiên toà ngày 16 và 25/9/2024; có mặt ở phiên toà ngày 23/10/2024).
    Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
  4. Lê Tiến H, sinh năm 1972 (cha bị cáo, có mặt ở phiên toà 25/9, 23/10/2024).
    Địa chỉ: Ấp P, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
  5. Nguyễn Thành P, sinh năm 1987 (có mặt ở phiên toà 25/9/2024).
    Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
  6. Võ Hoàng N1, sinh năm 1980 (có mặt ở phiên toà 25/9/2024).
    Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
  7. Đỗ Thị Lan C1, sinh năm 1973 (có mặt ở phiên toà 25/9/2024).
    Địa chỉ: Số A, Nguyễn Cư T3, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
  8. Phạm Minh T4, sinh năm 1978 (có mặt ở phiên toà 23/10/2024).
    Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
  9. Phạm Phú Q, sinh năm 2003 (có mặt ở phiên toà 23/10/2024).
    Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
  10. Phan Thanh H2, sinh năm 1987 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
  11. Nguyễn Quốc T5, sinh năm 1986 (có mặt ở phiên toà 23/10/2024).
    Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
  12. Phan Vĩnh T6, sinh năm 1985 (có mặt ở phiên toà ngày 23/10/2024).
    Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Cán bộ điều tra:

Ông Võ Thành N2- Cán bộ điều tra Công an huyện C, tỉnh Đồng Tháp (có mặt ở phiên toà ngày 23/10/2024).

Giám định viên:

  1. Bà Võ Thị Thùy T7 (có mặt ở phiên toà ngày 23/10/2024).
    Giám định viên tư pháp thuộc Phòng K1 Công an tỉnh Đ.
  2. Ông Nguyễn Văn Thắng E (vắng mặt).
    Giám định viên tư pháp thuộc Phòng K1 Công an tỉnh Đ.

Đại diện Phòng C2 Công an tỉnh Đ:

Trung tá Nguyễn Xuân T8- Chức vụ Phó Đội Trưởng đang công tác tại Phòng C2 Công an tỉnh Đ (P1) (có mặt ở phiên toà ngày 23/10/2024).

Trong vụ án có người đại diện hợp pháp của bị hại Phạm Văn N là chị Trần Thụy Mỹ X không kháng cáo; Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 19/01/2023, Lê Nhật B điều khiển xe mô tô biển số 59A3 - 075.50, nhãn hiệu H3, dung tích xy lanh 883cm³ lưu thông trên Quốc lộ H, hướng từ thành phố V, tỉnh Vĩnh Long đến thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Khi đi đến Km10+400, khu vực đông dân cư, thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp lúc này trên đường có nhiều xe mô tô chạy cùng chiều và liền kề phía trước, nhưng do không làm chủ tốc độ và thiếu chú ý quan sát nên xe của B đã va chạm vào xe mô tô Yamaha Sirius, biển số 66S1 - 403.45 do ông Phạm Văn N điều khiển đang chuyển hướng qua đường ngược chiều phía trước (ông N từ lề phải đường của hướng Vĩnh Long đi S điều khiển xe sang phần đường của hướng S đi Vĩnh Long). Sau va chạm, xe của ông N bị gãy phần đầu, ngã xuống đường, xe của B ngã xuống đường và trượt sang lề trái một đoạn. Hậu quả là ông N bị chấn thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ, tỉnh Đồng Tháp, nhưng trên đường đi thì ông N tử vong, riêng bị cáo B chỉ bị sây xát ngoài da vùng gối phải, cùi chỏ tay phải.

Kết quả khám nghiệm hiện trường ngày 19/01/2023 của Công an huyện C, tỉnh Đồng Tháp thể hiện:

- Đoạn đường thẳng, tầm nhìn không bị hạn chế; mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, rộng 11 mét; ở giữa tim đường có vạch kẻ đứt quãng màu vàng chia làm 02 phần đường đi ngược chiều, mỗi bên phần đường rộng 5,50 mét.

- Chọn lề đường bên phải hướng đi từ thành phố V đến thành phố S làm lề chuẩn. Quá trình khám nghiệm xác định và ghi nhận như sau: Vị trí vùng va chạm nằm bên phần đường bên phải hướng đi từ thành phố V đến thành phố S có kích thước (0,70 x 0,70) mét, tâm cách lề chuẩn là 4,10 mét; cách tâm trục sau xe mô tô biển số 66S1-403.45 của anh N là 08 mét; cách tâm trục trước xe mô tô biển số 59A3-075.50 của bị cáo B là 17,50 mét.

Kết quả khám xe mô tô biển số 66S1- 403.45 ngày 27/01/2023 của Công an huyện C thể hiện: Đầu tay cầm của tay lái bên trái bị nứt phần inox rời khỏi xe, mặt nạ trước đầu xe bị gãy sứt rời khỏi xe, cháng ba xe bị gãy rời khỏi xe, chắn bùn trước bị bể nhiều nơi, tất cả các căm của mâm xe trước bị gãy hoàn toàn. Mặt ngoài vành bánh xe trước có vết mày mòn kích thước 6 x 0,5cm.

Kết quả khám xe mô tô biển số 59A3- 075.50 ngày 27/01/2023 của Công an huyện C thể hiện: Đầu chụp tay cầm bên phải bị sứt rời khỏi xe, phần nhựa còn lại có vết rách chiều dài 3cm, mặt ngoài phía trước trên bình dầu thắng tay bên phải xe có vết trầy xướt, mày mòn không liên tục kích thước (7 x 5cm), cần thắng tay bên phải xe bị gãy rời khỏi xe, phần còn lại bị trầy xướt, mày mòn không liên tục, kích thước (8 x 0,5cm).

Kết quả trích xuất dữ liệu camera tại Công ty TNHH X2 cho thấy: Tại thời điểm người bị hại N điều khiển xe chuyển hướng từ lề trái để sang lề phải hướng đi từ thành phố S đến thành phố V, đến thời điểm xảy ra tai nạn với xe của bị cáo B thì mật độ phương tiện lưu thông trên đường là khá đông, ngoài xe của bị cáo và bị hại thì có 04 xe môtô khác đang lưu thông theo hướng thành phố V đến thành phố S và 02 xe ôtô loại 07 chỗ và 16 chỗ đang lưu thông theo hướng từ thành phố S về thành phố V.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 51/TTh-TTPY ngày 02/02/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Đ kết luận: Nguyên nhân tử vong của ông Phạm Văn N là do suy hô hấp cấp/Lao đa màng.

Tại các Bản kết luận giám định số 91/KL-KTHS ngày 26/01/2023 và số 102 ngày 29/01/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu máu thu giữ của bị cáo Lê Nhật B và ông Phạm Văn N ngày 19/01/2023 không phát hiện thành phần cồn (Ethanol).

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS ngày 27/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Đồng Tháp kết luận: Xe mô tô biển số 66S1- 403.45 bị hư hỏng có giá trị phần thiệt hại là 10.000.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tạm giữ: 01 xe mô tô loại IRON 883, nhãn hiệu HARLEY màu đen biển số 59A3- 075.50 của Lê Nhật B; 01 xe mô tô loại SIRIUS, nhãn hiệu YAMAHA màu xám-đen biển số 66S1-403.45, 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 036399 của ông Phạm Văn N.

Đối với xe mô tô loại IRON 883, nhãn hiệu HARLEY màu đen, biển số 59A3-075.50 là của Lê Nhật B, do B không có hộ khẩu ở Thành phố Hồ Chí Minh nên B nhờ anh Đàm Quang T1, sinh năm 1992, ngụ phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên giùm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Đồng Tháp đã trao trả xe cho Lê Nhật B. B đã bán xe để lấy tiền nộp cho Cơ quan điều tra khắc phục một phần hậu quả cho gia đình bị hại.

Trong quá trình điều tra, Lê Nhật B trình bày là sau khi xảy ra tai nạn thì ví của B bị mất, trong đó có giấy phép lái xe hạng A2. Ngày 08/02/2023, Sở Giao thông vận tải Thành phố H có Công văn số 1239/SGTVT-SH cung cấp thông tin về việc cấp giấy phép lái xe cho Lê Nhật B như sau: Vào ngày 14/10/2020, Sở Giao thông vận tải Thành phố H có cấp cho Lê Nhật B, sinh ngày 20/01/2000, nơi thường trú ấp P, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang 01 giấy phép lái xe hạng A2, số G.

Đối với xe mô tô biển số 66S1-403.45 là do ông Phạm Văn N mua và đứng tên đăng ký sở hữu, do xe bị hư hỏng nên đại diện hợp pháp của bị hại N là chị Trần Thị Mỹ X1 không đồng ý nhận lại.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2024/HS-ST ngày 08/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp đã xét xử:

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
    Tuyên bố bị cáo Lê Nhật B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
    Xử phạt bị cáo Lê Nhật B 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 591 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Lê Nhật B bồi thường cho chị Trần Thị Mỹ X1 là đại diện hợp pháp của bị hại gồm: Chi phí mai táng 80.000.000 đồng, tiền sửa xe 10.000.000 đồng, cấp dưỡng cho em Phạm Trần Tuấn K là 359.510.000 đồng và tiền tổn thất tinh thần là 70 tháng lương cơ sở với số tiền là 104.300.000 đồng. Tổng cộng 553.810.000 đồng. Chị X1 đã nhận trước 40.000.000 đồng, bị cáo đã nộp 70.000.000 đồng tại Cơ quan Cảnh sát điều tra. Bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 443.810.000 đồng.
    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án chưa thi hành xong thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án đến khi thi hành án xong.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    Trao trả 01 xe mô tô loại Sirius, nhãn hiệu Yamaha màu xám – đen, biển số 66S1 – 403.45, 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 036399 cho chị Trần Thị Mỹ X1.
    Tiếp tục giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành quản lý số tiền 70.000.000 đồng bị cáo B đã nộp khắc phục cho gia đình bị hại để bảo đảm cho việc thi hành án.
    (Các tài sản trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành đang bảo quản theo quyết định chuyển vật chứng ngày 22/4/2024)
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội.
    Bị cáo Lê Nhật B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 21.752.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ngày 18/7/2024, bị cáo Lê Nhật B có đơn kháng cáo toàn bộ bản án, bị cáo kêu oan. Đến ngày 20/7/2024, bị cáo có đơn kháng cáo chi tiết, nêu các nội dung kháng cáo cụ thể như sau:

Thứ nhất, nội dung vụ án của bị cáo giống với nội dung vụ án được nêu tại Bản án số 39/2022/HS – ST ngày 20/10/2022 của Toà án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, hành vi tương tự hành vi của bị cáo trong vụ án đó không bị coi là có tội.

Thứ hai, Bản án sơ thẩm cho rằng bị cáo vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ để làm căn cứ kết tội theo Điều 260 Bộ luật Hình sự là nhầm lẫn, vì khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ là những quy định chung. Bản án sơ thẩm không chỉ rõ được hành vi vi phạm của bị cáo? Vi phạm tốc độ như thế nào? Vì bị cáo đi đúng tốc độ; không xác định bị cáo vi phạm điều nào của quy tắc giao thông đường bộ? Bản án sơ thẩm căn cứ Thông tư 31/2019/TT-BGTVT của Bộ G là nhầm lẫn, vì khoảng cách an toàn là đối với xe chạy liền trước xe bị cáo, nhưng trong vụ án này bị hại N đi ngược chiều và sai làn đường, vị trí va chạm thuộc làn đường của bị cáo, bị hại N mới là người vi phạm quy tắc giao thông đường bộ.

Thứ ba, do bị cáo không phạm tội nên bị cáo không phải bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại.

Thứ tư, Cơ quan tiến hành tố tụng đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng về trách nhiệm chứng minh tội phạm.

Thứ năm, tại hiện trường, bị cáo ngửi thấy bị hại N nồng nặc mùi rượu, bia. Công an có nói với bị cáo là bị hại có lỗi hoàn toàn và đã ra quyết định không khởi tố, nhưng sau này lại kết luận bị hại không có nồng độ cồn và khởi tố bị cáo là không trung thực, không công bằng cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Nhật B thừa nhận vào khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 19/01/2023 bị cáo điều khiển xe mô tô Harley Davidson Iron, có dung tích xy lanh 883cm³, biển số 59A3 – 075.50 lưu thông trên Quốc lộ H, hướng từ thành phố V, tỉnh Vĩnh Long đến thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, khi đến km 10 + 400, khu vực đông dân cư thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp thì xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 66S – 403.45 do bị hại Phạm Văn N điều khiển, nhưng bị cáo cho rằng bị cáo không phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự bởi vì bị cáo không có lỗi mà người có lỗi là bị hại N vì bị hại sang đường, đi ngược chiều không đúng quy định. Bị cáo B vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Người đại diện hợp pháp của bị hại Phạm Văn N là chị Trần Thụy Mỹ X trình bày thống nhất với quyết định của Bản án sơ thẩm, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Những người làm chứng: Lê Tiến H (cha của bị cáo B), Nguyễn Thành P (lái xe cho ông H), Võ Hoàng N1 (đi cùng ông H), Đỗ Thị Lan C1 (đi cùng ông H) tại phiên toà phúc thẩm khai rằng: Sau khi sự việc xảy ra, thì các ông, bà có đến khu vực xảy ra tai nạn, dự đám tang bị hại thì nghe những người xung quanh nói là chiều ngày xảy ra tai nạn 19/01/2023 (tức 28/12/2022 âm lịch) nhà cha của anh N có tổ chức tiệc tất niên và anh N có dự, có uống rượu, bia.

Người làm chứng Hồ Như T2 khai: Chiều ngày 19/01/2023 bà T2 có đứng nói chuyện với bị hại N, anh N nói xong thì chạy xe đi, ngay sau đó bà T2 nghe tiếng va chạm xe, bà nhìn lại thì thấy anh N đang nằm dưới đường, cổ bị chảy máu, bà T2 kêu con là Phạm Phú Q đỡ anh N lên và cùng người dân đưa anh N đi cấp cứu. Khi nói chuyện với bị hại N thì bà T2 không nghe anh N có mùi rượu, bia, mặt anh N cũng không có biểu hiện là đã uống rượu, bia.

Những người làm chứng Phạm Phú Q, Phan Vĩnh T6, Nguyễn Quốc T5 đều thừa nhận trực tiếp tiếp xúc với bị hại N ngay sau khi tai nạn xảy ra và chặn xe tải đang lưu thông để chở bị hại N đi cấp cứu. Anh Q, anh T6 và anh T5 đều khai là khi tiếp xúc với cơ thể bị hại N thì không nghe có mùi rượu, bia và đều khai là bị cáo không có tham gia cấp cứu bị hại, sau khi va chạm thì bị cáo ngồi bên kia đường, gần xe của bị cáo. Thời điểm đó, không ai trong các anh nói chuyện với bị cáo.

Người làm chứng Phạm Minh T4 (em bị hại N) khai là không trực tiếp chứng kiến vụ va chạm, không tham gia đưa anh N đi cấp cứu. Sau khi tai nạn xảy ra, anh T4 được người nhà gọi điện báo thì mới biết, do thời điểm đó anh đi công chuyện ở nơi khác. Anh T4 chưa bao giờ tiếp xúc, nói chuyện với bị cáo B.

Tại phiên toà phúc thẩm, ông Võ Thành N2- Cán bộ điều tra Công an huyện C, tỉnh Đồng Tháp phát biểu là quá trình điều tra đã làm đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Ông N2 không có nói với bị cáo là vụ án do lỗi của bị hại nên không khởi tố.

Bà Võ Thị Thùy T7- Giám định viên tư pháp thuộc Phòng K1 Công an tỉnh Đ trình bày là quá trình giám định nồng độ cồn của bị hại N đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định.

Ông Nguyễn Xuân T8- Đại diện Phòng C2 Công an tỉnh Đ phát biểu khẳng định việc trao đổi, nhận định lỗi trong vụ án này đã được Phòng Cảnh sát giao thông áp dụng đúng căn cứ pháp lý, khách quan và thận trọng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm cho rằng Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Nhật B với tội danh, điều khoản và mức hình phạt đã áp dụng la có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Bị cáo kháng cáo kêu oan cho rằng bị cáo bị gây tai nạn do hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ của bị hại, bị cáo hoàn toàn không có lỗi. Căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, lời khai của những người làm chứng, đặc biệt là qua xem xét các đoạn video clip trích xuất từ các camera quay lại hiện trường có đủ cơ sở để xác định lỗi trong vụ án này là lỗi hỗn hợp, bị cáo có lỗi là điều khiển xe vào khu vực đông dân cư, không bảo đảm tốc độ, không giữ khoảng cách an toàn, hợp lý với các xe chạy liền phía trước làm cho tầm nhìn bị hạn chế nên bị cáo không thể giảm tốc độ đến mức có thể dừng hẳn khi phát hiện bị hại đang sang đường, bị hại N cũng có lỗi là chuyển hướng không bảo đảm an toàn trong điều kiện mật độ phương tiện tham gia giao thông đông. Tuy nhiên, lỗi của bị cáo la nguyên nhân trực tiếp làm cho bị hại tử vong, nên việc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Do bị cáo có lỗi, gây ra cái chết cho bị hại nên bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường dân sự cho đại diện hợp pháp của bị hại. Do trong vụ án này bị hại cũng có lỗi, nên việc quyết định mức bồi thường như bản án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ. Các phần khác của quyết định Bản án sơ thẩm là phù hợp. Từ các phân tích trên, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Luật sư Vũ Mạnh H1 bào chữa cho bị cáo Lê Nhật B phát biểu có nội dung chính như sau: Vụ án này có dấu hiệu sai sót trong hoạt động tố tụng. Thứ nhất, là về tội danh, căn cứ để các Cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm xác định tội danh đối với bị cáo Lê Nhật B là không đúng quy định của pháp luật. Các Cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các quy định của Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ để làm cơ sở xác định lỗi của bị cáo B là không đúng pháp luật, vì theo quy định của Thông tư này, bị cáo B chỉ phải giữ khoảng cách đối với các xe chạy phía trước bị cáo. Trong vụ án này, bị cáo B chạy sau các xe suốt một quãng đường dài nhưng không xảy ra va chạm. Bị cáo B hoàn toàn không bị xử phạt hành chính về hành vi vi phạm nguyên tắc giao thông trước khi xảy ra tai nạn. Nếu xem xét kỹ thì thấy rằng 02 giây trước khi xảy ra tai nạn, thì người vi phạm là bị hại N chứ không phải bị cáo.

Căn cứ vào Công văn số 999/PC08-Đ2 ngày 06/10/2023 của Phòng C2 Công an tỉnh Đ thì các Cơ quan tiến hành tố tụng ở huyện C mới khởi tố vụ án, trước đó thì họ ra quyết định không khởi tố. Công văn 999/PC08- Đ2 ngày 06/10/2023 nói trên xác định lỗi chỉ đúng với trường hợp của bị hại Phạm Văn N, còn đối với bị cáo thì Công văn này xác định lỗi là không đúng. Công văn này căn cứ vào quy định của Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G để xác định lỗi, nhưng Thông tư 31 chỉ điều chỉnh đối với những xe chạy cùng chiều trên 01 làn đường, trong trường hợp này yếu tố xảy ra tai nạn là do bị cáo bị bất ngờ, bị cáo bị các xe chạy phía trước che chắn tầm nhìn. Trước đây các Cơ quan tiến hành tố tụng huyện C không khởi tố vụ án là đúng. Nay các Cơ quan tiến hành tố tụng căn cứ vào khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ để xử lý bị cáo B là không có căn cứ, là mơ hồ. Thời điểm đó bị hại mặc đồ đen, chạy xe đen, qua đường lúc trời chập choạng tối, bị hại di chuyển qua đường theo hướng xương cá nên bị cáo B bị che khuất tầm nhìn, bị hại cũng không mở đèn tín hiệu, đây là tình huống bất ngờ, bị cáo B đang đi trên phần đường của bị cáo thì bị cáo không có lỗi, bị hại đi ngược đường thì đây là lỗi cố ý của bị hại, người vi phạm là ông N, nếu bị hại dừng lại thì không có tai nạn. Mọi buộc tội bị cáo B theo khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ là không có căn cứ, vi phạm Điều 15 Bộ luật Tố tụng hình sự dẫn đến xác định tội danh không đúng.

Thứ hai, Bản án sơ thẩm còn áp dụng sai pháp luật về bồi thường dân sự, bị hại cũng có lỗi nhưng Toà án buộc bị cáo bồi thường toàn bộ là không đúng.

Thứ ba, kết luận giám định nồng độ cồn của bị hại là sai quy trình, có nhiều nghi vấn về trình tự, thủ tục giám định.

Từ những phân tích trên, Luật sư Vũ Mạnh H1 đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 13, Điều 15, Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên bố bị cáo B không có tội, huỷ Bản án sơ thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử tự mình hoặc kiến nghị khởi tố vụ án xâm phạm hoạt động tư pháp.

Tại phiên toà phúc thẩm, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đại diện hợp pháp của bị hại là Luật sư Dương Thành C phát biểu có nội dung chính như sau: Luật sư đồng ý với quan điểm của Kiểm sát viên về giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm, nhưng không đồng ý với quan điểm Luật sư bào chữa cho bị cáo. Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng bị hại khi điều khiển xe sang đường không mở đèn tín hiệu, nhưng theo Công văn số 999/PC08-Đ2 ngày 06/10/2023 của Phòng C2 Công an tỉnh Đ thì không xác định được bị hại có mở đèn hay không? Đoạn đường đó là đoạn đường đứt quãng, bị hại được quyền chuyển hướng, bị cáo B bị hạn chế tầm nhìn chứ không phải bị che khuất tầm nhìn, trong quá trình điều tra bị cáo cũng thừa nhận là tầm nhìn bị hạn chế. Tại phiên toà ngày 25/9/2024, bị cáo, cha của bị cáo là ông Lê Tiến H và những người đi theo cha của bị cáo ra làm chứng cho rằng nghe nói bị hại N có sử dụng rượu, bia vào ngày 19/01/2023, nhưng tất cả họ đều khai là chỉ nghe nói chứ không có chứng cứ chứng minh là bị hại có uống rượu, bia. Vả lại, họ là người thân của bị cáo thì lời làm chứng là không khách quan. Tại phiên toà hôm nay, có thêm nhiều người làm chứng là chị T2, anh Q, anh T5, anh T6 xác định bị hại không có uống rượu, bia. Những người làm chứng này còn trực tiếp chặn xe, đưa bị hại đi cấp cứu, xác định bị cáo không tham gia cấp cứu nạn nhân. Trong suốt quá trình điều tra, bị cáo không có lời khai nào là tham gia cấp cứu nạn nhân, khi kháng cáo và tại phiên toà phúc thẩm bị cáo do được tư vấn nên mới khai là có ẩm nạn nhân. Khi Cơ quan điều tra tống đạt thông báo kết luận giám định về nồng độ cồn thì bị cáo không có ý kiến, không khiếu nại. Bị cáo còn nói em trai của bị hại nói với bị cáo là bị hại có uống rượu, nhưng bị hại chỉ có 01 em trai là anh Phạm Minh T4, tại phiên toà hôm nay anh T4 khai là chưa từng gặp bị cáo. Về việc các Cơ quan tiến hành tố tụng huyện C áp dụng pháp luật để truy tố, xét xử là có căn cứ. Hai lời khai ban đầu, bị cáo khai điều khiển xe mô tô với tốc độ khoảng 60 đến 70 km/h, lời khai này là có căn cứ, phù hợp với hiện trường. Trước đây, bị cáo còn khai là do vượt xe ô tô nên đụng vào xe bị hại, sau đó bị cáo cũng thay đổi lời khai. Biên bản hiện trường thể hiện vết cày của xe bị cáo so với điểm đụng có khoảng cách xa, chứng tỏ bị cáo chạy xe với tốc độ 60 đến 70 km/h là có căn cứ. Về bản án sơ thẩm tuyên bị hại có 01 phần lỗi là không có căn cứ, Công văn số 999/PC08-Đ2 ngày 06/10/2023 của Phòng C2 Công an tỉnh Đ nói bị hại có lỗi di chuyển là không đúng.

Hành vi của bị cáo gây ra cái chết cho bị hại Phạm Văn N, gián tiếp gây ra cái chết cho cha của anh N, vì ông cụ bị bệnh tai biến đã lâu năm, khi anh N qua đời gia đình không cho ông cụ hay, nhưng khi hay tin anh N mất thì ông cũng buồn mà qua đời luôn. Việc Toà án nhân dân huyện Châu Thành quyết định về mức bồi thường trong bản án là có căn cứ. Luật sư C đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng xác định hành vi của bị cáo là giành đường, vượt ẩu theo khoản 11 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ và xác định lại là bị hại không có lỗi.

Tại phần tranh luận bị cáo cho rằng mình không phạm tội. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 19/01/2023, bị cáo Lê Nhật B điều khiển xe mô tô hiệu Harley Davidson, loại Iron, có dung tích xy lanh 883cm³, mang biển số 59A3-075.50 lưu thông trên Quốc lộ H, hướng từ thành phố V, tỉnh Vĩnh Long đến thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Khi đi đến Km10+400, khu vực đông dân cư, thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp thì lúc này trên đường có nhiều xe mô tô chạy cùng chiều và liền kề phía trước, nhưng do không giảm tốc độ và thiếu chú ý quan sát nên xe của B đã va chạm vào xe mô tô biển số 66S1- 403.45 do bị hại Phạm Văn N điều khiển đang chuyển hướng qua phần đường chiều ngược lại. Sau va chạm, xe của bị hại N bị gãy phần đầu, ngã xuống đường, xe của B ngã xuống đường và trượt sang lề trái một đoạn. Hậu quả là bị hại N bị chấn thương nặng được đưa đi Bệnh viện Đ, tỉnh Đồng Tháp cấp cứu, nhưng trên đường đi thì tử vong; riêng bị cáo B chỉ bị sây xát ngoài da vùng gối phải, cùi chỏ tay phải.

[2] Qua đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

[2.1] Đoạn đường xảy ra vụ tai nạn giao thông là đường 02 chiều, không có dải phân cách giữa. Mặt đường rộng 11m, ở giữa tim đường có vạch kẻ nét đứt quãng màu vàng, chia mỗi bên có phần đường rộng 5,50m. Đoạn đường thẳng, tầm nhìn không bị hạn chế. Đây là đoạn đường qua khu đông dân cư, được xác định bằng biển báo hiệu “Bắt đầu khu đông dân cư – Biển số R420” đặt tại Km 09 + 00 và biển “Hết khu đông dân cư – Biển số R.421” đặt tại Km 10 + 600. Vậy, đây là đoạn đường qua khu đông dân cư, người điều khiển xe phải chấp hành quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới được quy định tại Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về “Tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ”. Đây là đoạn đường 02 chiều, người điều khiển xe được phép chuyển hướng.

[2.2] Bị hại Phạm Văn N điều khiển xe mô tô biển số 66S1- 403.45 chuyển hướng từ lề bên phải của đường (lề phải của hướng Vĩnh Long đi S) để sang phần đường chiều ngược lại (hướng S đi Vĩnh Long). Theo ghi nhận trong video clip trích xuất từ camera thì ông N điều khiển xe với tốc độ rất chậm, đi xéo, chạy xe từ từ để sang phần đường của hướng S đi Vĩnh Long. Tuy nhiên, hành vi của bị hại Phạm Văn N cũng có lỗi vì chuyển hướng sang đường không bảo đảm an toàn.

[2.3] Bị cáo Lê Nhật B điều khiển xe mô tô mang biển số 59A3 – 075.50, có dung tích xy lanh 883 cm³, nhãn hiệu Harley Davidson, loại Iron, có giấy phép lái xe hạng A2. Chiếc xe này là phương tiện có dung tích xy lanh lớn, trọng lượng nặng hơn nhiều so với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Sirius có dung tích 110 cm³ do bị hại Phạm Văn N điều khiển. Trước khi xảy ra va chạm thì có 04 xe mô tô đang lưu thông phía trước cùng chiều với xe mô tô của bị cáo Lê Nhật B và các xe này đều tránh được xe của bị hại N. Vùng va chạm cách lề phải đường theo hướng Vĩnh Long đi S là 4,40m, cách vạch kẻ tim đường là 1,1m, nên vùng va chạm thuộc phần đường xe mô tô của bị cáo lưu thông.

Bị cáo cho rằng do có nhiều xe chạy phía trước nên bị cáo bị che khuất tầm nhìn. Xét thấy lời khai này của bị cáo là không có căn cứ thuyết phục, bởi vì khu vực xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, phần đường xe chạy của bị cáo chiều ngang là 5,50m; các xe chạy liền trước xe bị cáo đều là xe mô tô và đều đã tránh được xe của bị hại. Trong trường hợp này thì tầm nhìn của bị cáo chỉ bị hạn chế, tuy nhiên việc tầm nhìn của bị cáo bị hạn chế không phải do yếu tố khách quan tác động mà do chủ quan của bị cáo, vì bị cáo phải chủ động được về khoảng cách với xe liền trước và bảo đảm được tầm quan sát để không bị hạn chế tầm nhìn.

Tại lời khai ban đầu vào ngày 19/01/2023 khi được hỏi vận tốc xe của bị cáo tại thời điểm va chạm là bao nhiêu km/h? Thì bị cáo khai là từ 60km/h đến 70km/h, nhưng sau đó thì bị cáo khai là khi vào địa phận xã T bị cáo điều khiển xe tốc độ khoảng từ 60km/h đến 70km/h, khi qua cầu N, bị cáo thấy có 03 đến 05 xe mô tô phía trước nên bị cáo giảm tốc độ còn khoảng 50km/h. Căn cứ quy định tại Điều 11 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về “Tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ” thì khi điều khiển xe chạy với tốc độ dưới 60km/h người lái xe phải chủ động giữ khoảng cách an toàn phù hợp với xe chạy liền trước của mình; khoảng cách này phù hợp vào mật độ phương tiện, tình hình thực tế để đảm bảo an toàn giao thông. Trong trường hợp này, mật độ phương tiện tham gia giao thông đông, bị cáo chạy liền kề với 04 xe chạy phía trước, không giữ khoảng cách an toàn làm cho tầm nhìn của mình bị hạn chế, đây là lỗi chủ quan khi điều khiển phương tiện của bị cáo.

Theo quy định tại Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT nêu trên, thì người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong nhiều trường hợp, trong đó có trường hợp tầm nhìn bị hạn chế hoặc qua khu vực đông dân cư. Theo lời khai của bị cáo là có giảm tốc độ còn khoảng 50km/h thì va chạm với xe của bị hại, nhưng theo sơ đồ hiện trường thì vị trí tâm bánh trước xe mô tô Harley Davidson của bị cáo sau va chạm cách vị trí điểm đụng là 17,50m; theo biên bản khám nghiệm phương tiện 66S1- 403.45 thì phương tiện này bị hư hỏng hoàn toàn phần thân trước và theo Kết luận giám định pháp y về tử thi số 51/TTh-TTPY ngày 02/02/2023 thì bị hại bị nhiều vết thương trên cơ thể, trong đó có gãy xương sườn số 1, 2, 3, 4 bên phải; dập, sung huyết thuỳ trên, thuỳ dưới phổi trái; rách mặt bên thuỳ trên phổi trái kích thước 03cm x 01cm, nên chứng tỏ va chạm xảy ra là rất mạnh, cho thấy bị cáo không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn dẫn đến va chạm vào xe của bị hại, làm bị hại tử vong.

Mặc dù trong vụ án này bị cáo và bị hại đều có lỗi, nhưng hành vi của bị cáo là vi phạm các quy tắc giao thông đường bộ được quy định tại khoản 3 Điều 28 Luật giao thông đường bộ; Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về “Tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ” trực tiếp làm cho bị hại tử vong, nên hành vi của bị cáo đủ cơ sở cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo kháng cáo cho rằng mình không phạm tội là không có căn cứ chấp nhận.

[3] Bị cáo cho rằng nội dung vụ án của bị cáo giống với nội dung vụ án tại Bản án số 39/2022/HS – ST ngày 20/10/2022 của Toà án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, hành vi tương tự hành vi của bị cáo nêu trong vụ án đó không bị coi là có tội. Tuy nhiên, qua xem xét Bản án số 39/2022/HS – ST ngày 20/10/2022 của Toà án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp và sơ đồ hiện trường vụ va chạm giao thông của Bản án số 39/2022/HS - ST vừa nêu, thì hướng di chuyển của các phương tiện là khác nhau, lỗi của bị cáo trong vụ án đó cũng khác với lỗi của bị cáo Lê Nhật B trong vụ án này và không có việc Toà án nhân dân huyện Thanh Bình tuyên bố bị cáo không có tội. Do đó, không chấp nhận sự viện dẫn bản án để áp dụng pháp luật tương tự của bị cáo B.

[4] Bản án sơ thẩm cho rằng bị cáo vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ để làm căn cứ kết tội theo Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng, không nhầm lẫn, vì Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định “Những hành vi bị nghiêm cấm”, trong đó tại khoản 23 có quy định: “Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ” và Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G là một trong những văn bản quy phạm pháp luật cụ thể hoá các quy định trên. Các vi phạm pháp luật của bị cáo đã được phân tích ở các phần trên, trong đó có vi phạm Điều 5 của Thông tư 31, nên việc áp dụng pháp luật của Toà án cấp sơ thẩm là có căn cứ, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo về nội dung này.

[5] Bị cáo cho rằng bị hại có nồng độ cồn khi va chạm giao thông là không có căn cứ chứng minh, trong khi tại hồ sơ thể hiện vào lúc 21 giờ, ngày 19/01/2023, cơ quan chức năng đã thu mẫu máu của bị hại. Tại Kết luận giám định số 91/KL-KTHS ngày 26/01/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ thì không phát hiện trong máu của bị hại có nồng độ cồn. Điều này phù hợp với lời khai của người làm chứng Hồ Như T2 tại biên bản ghi lời khai ngày 19/01/2023 là: “Ông N không có sử dụng rượu bia vì khi nói chuyện tôi không nghe mùi và không có biểu hiện bị say”. Tại phiên toà phúc thẩm ngày 23/10/2024, những người làm chứng là bà Hồ Như T2, anh Phạm Phú Q, anh Nguyễn Quốc T5, anh Phan Vĩnh T6 đều khai là bị hại N không có mùi rượu, bia, không có biểu hiện say. Các lời khai này phù hợp với kết quả giám định nêu trên. Trong khi đó, tại phiên toà ngày 25/9/2024, những người làm chứng Lê Tiến H, Nguyễn Thành P, Võ Hoàng N1, Đỗ Thị Lan C1 khai là có nghe nói bị hại N có uống rượu, bia, nhưng lời khai này không có chứng cứ chứng minh và không phù hợp với chứng cứ khác. Vì vậy có căn cứ xác định khi xảy ra vụ án trong người bị hại N không có nồng độ cồn.

[6] Bị cáo cho rằng Cơ quan tiến hành tố tụng đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng về trách nhiệm chứng minh tội phạm là không có căn cứ, lý do đã phân tích ở phần trên về nội dung định tội đối với bị cáo. Đồng thời, xét thấy trình tự, thủ tục giám định và áp dụng kết quả giám định trong vụ án là phù hợp, quá trình điều tra bị cáo đã nhận các thông báo kết quả giám định và bị cáo đồng ý, không có khiếu nại, kết quả giám định còn phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án, nên được chấp nhận.

[7] Do bị cáo phạm tội nên bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại. Tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại thống nhất bồi thường về mai táng phí là 80.000.000 đồng; chi phí sửa xe là 10.000.000 đồng, nên Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận là có căn cứ. Toà án cấp sơ thẩm buộc bị cáo phải cấp dưỡng cho con của bị hại chưa thành niên đến khi trưởng thành là phù hợp. Về bồi thường tổn thất tinh thần, Toà án cấp sơ thẩm nhận định do bị hại có một phần lỗi nên buộc bị cáo phải bồi thường tương đương 70 tháng lương cơ sở là có căn cứ pháp luật.

[8] Xét thấy việc các Cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm áp dụng các văn bản pháp luật được nêu tại Bản án sơ thẩm để giải quyết vụ án là đúng quy định.

[9] Từ những phân tích trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo Lê Nhật B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo kêu oan bị cáo Lê Nhật B, giữ nguyên phần quyết định của Bản án sơ thẩm.

[10] Xét thấy phát biểu của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ chấp nhận; không có căn cứ để chấp nhận lời bào chữa của Luật sư bào chữa cho bị cáo, có căn cứ để chấp nhận một phần quan điểm bào chữa của Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đại diện của bị hại, các lý do đã được phân tích ở các phần trên.

[11] Do kháng cáo của bị cáo Lê Nhật B không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[12] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
    Không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo Lê Nhật B.
    Giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2024/HS-ST ngày 08/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
  2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
    Tuyên bố bị cáo Lê Nhật B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
    Xử phạt bị cáo Lê Nhật B 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
  3. Về trách nhiệm dân sự:
    Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 591 Bộ luật Dân sự.
    Buộc bị cáo Lê Nhật B bồi thường cho chị Trần Thị Mỹ X1 là đại diện hợp pháp của bị hại gồm: Chi phí mai táng 80.000.000 đồng, tiền sửa xe 10.000.000 đồng, cấp dưỡng cho em Phạm Trần Tuấn K là 359.510.000 đồng và tiền tổn thất tinh thần là 70 tháng lương cơ sở với số tiền là 104.300.000 đồng. Tổng cộng là 553.810.000 đồng. Chị X1 đã nhận trước 40.000.000 đồng, bị cáo đã nộp 70.000.000 đồng tại Cơ quan Cảnh sát điều tra. Bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 443.810.000 đồng.
    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án chưa thi hành xong thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án đến khi thi hành án xong.
  4. Về xử lý vật chứng:
    Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    Trao trả 01 xe mô tô loại Sirius, nhãn hiệu Yamaha màu xám – đen, biển số 66S1 – 403.45, 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 036399 cho chị Trần Thị Mỹ X1.
    Tiếp tục giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp quản lý số tiền 70.000.000 đồng mà bị cáo B đã nộp khắc phục cho gia đình bị hại để bảo đảm cho việc thi hành án.
    (Các tài sản trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp đang bảo quản theo quyết định chuyển vật chứng ngày 22/4/2024)
  5. Về án phí:
    Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 23; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội.
    Bị cáo Lê Nhật B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 21.752.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    Bị cáo Lê Nhật B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
  6. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC- Vụ GĐKT 1;
  • - Ban Nội chính Tỉnh ủy ĐT;
  • - Sở Tư pháp ĐT;
  • - VKSND tỉnh ĐT;
  • - Cơ quan THAHS Công an ĐT;
  • - TAND H. Châu Thành (02b);
  • - VKSND H. Châu Thành;
  • - Chi cục THADS H.Châu Thành, ĐT;
  • - Cơ quan CSĐT Công an H. Châu Thành;
  • - Bị cáo;
  • - Đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an ĐT;
  • - Phòng KTNV- THA Tòa án ĐT;
  • - Lưu: VT, HSVA (Loan).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tuấn Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 271/2024/HS-PT ngày 23/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 271/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Nhật B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger