Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 271/2024/HS-ST

Ngày: 25 – 9 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Quang Ngọc Nhân.

Các Hội thẩm nhân dân.

  • Ông Lê Văn Công;
  • Bà Trần Ngọc Phương.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 251/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 308a/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 08 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Thị H, sinh năm 1989 tại tỉnh An Giang; nơi thường trú: 115/2 ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn L và bà Trần Thị Ú; bị cáo có chồng tên Trần Thanh T và 02 người con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2024 đến nay, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị hại: Bà Trần Thị Kim H1, sinh năm 1997; nơi cư trú: Ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH D; trụ sở: 157/36 đường T, khu phố B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

Người làm chứng: Vũ Thành H2, Trần Thanh T, Huỳnh Văn T1, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Lê Thị H và bà Trần Thị Kim H1 cùng làm công nhân tại Công ty TNHH U tại địa chỉ: khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 24/01/2024, trong lúc nghỉ trưa, bà H1 làm rơi 01 chìa khoá remote của xe mô tô nhãn hiệu: Honda, loại: SH-Mode, màu sơn: nâu - đỏ, biển số: 67K1-617.82 của bà H1. Bị cáo H nhặt được chìa khoá remote này thì nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của bà H1 để bán lấy tiền tiêu xài nên không nói cho bà H1 biết mà cất giấu vào người. Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 27/01/2024, bị cáo H làm giấy xin ra cổng và đi bộ đến bãi giữ xe mô tô của công ty, dùng khoá remote nhặt được của bà H1 để tìm xe, sau khi tìm được xe H mở cốp xe thì thấy trong cốp có 01 thẻ giữ xe in số 51, trùng với số ghi bằng phấn trắng trên đầu của xe. Tiếp đến, bị cáo H điều khiển xe mô tô SH Mode, biển số: 67K1-617.82 ra cổng, đưa thẻ giữ xe và giấy xin ra cổng cho bảo vệ là ông Võ Thành H3, thấy số thẻ giữ xe trùng với số ghi trên xe mô tô biển số 67K1-617.82 nên ông H3 cho H và xe ra cổng. Sau khi chiếm đoạt được xe mô tô, bị cáo H điều khiển xe mô tô đến gửi xe tại Công ty A tại đường N, khu dân cư T, khu phố B, phường T, T là nơi làm việc của ông Trần Thanh T, chồng bị cáo H. Khi ông T hỏi thì H nói là xe của bạn làm cùng công ty nhờ H giữ giúp, rồi cả hai về quê. Vào khoảng 16 giờ 35 phút ngày 27/01/2024, khi hết giờ làm việc bà H1 ra bãi xe lấy xe đi về thì phát hiện bị mất nên đã báo cho bảo vệ công ty là ông Vũ Thành H2 và đến Công an phường T trình báo. Đến ngày 29/01/2024, bị cáo đến Công ty làm việc bình thường, sau khi biết hành vi của mình thực hiện bị phát hiện, bị cáo đã đến Công an phường T đầu thú, quá trình làm việc bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt tài sản là xe mô tô của bà H1. Sau khi biết xe mô tô biển số 67K1-617.82 do H trộm của bà H1 thì ông T đem xe trên đến Công an phường T giao nộp.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu: HONDA, số loại: SH-MODE, biển số: 67K1-617.82, số khung: 5146GY110239, số máy: JF51E0615526.

Biên bản và bản kết luận định giá tài sản ngày 02 tháng 02 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu: HONDA, số loại: SH MODE 125, biển số: 67K1-617.82 có giá trị hiện tại là 30.000.000 đồng.

Cáo trạng số: 228/CT-VKS-TA ngày 12/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Thị H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thị H mức hình phạt từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng.
  • - Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng là xe mô tô nhãn hiệu: HONDA, số loại: SH MODE 125, màu nâu đỏ, biển số: 67K1-617.82 đã được trả lại cho bị hại là phù hợp.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Trần Thị Kim H1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
  • - Bị cáo Lê Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung của Bản kết luận điều tra và Cáo trạng, thống nhất với lời luận tội của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[1.2] Xét thấy, việc bị cáo có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt là tự nguyện, không bị ai ép buộc, yêu cầu của bị cáo phù hợp với quy định tại điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật tố tụng Hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Bị cáo thống nhất toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

[2.1] Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 27/01/2024, tại Công ty TNHH U, địa chỉ: khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Lê Thị H có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu: HONDA, số loại: SH-MODE, biển số: 67K1-617.82, số khung: 5146GY110239, số máy: JF51E0615526, trị giá 30.000.000 đồng của bà Trần Thị Kim H1, hành vi của bị cáo sau đó bị phát hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát

nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[2.2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, do đó cần có mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo đầu thú; quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã thực hiện nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đối với xe mô tô nhãn hiệu: HONDA, số loại: SH MODE 125, màu nâu đỏ, biển số: 67K1-617.82 đã được trả lại cho bị hại.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
  • - Các Điều 136, Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 – 12 – 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lê Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt bị cáo Lê Thị H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/9/2024.

2. Về án phí:

Bị cáo Lê Thị H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND TP.Thuận An;
  • - Chi cục THADS TP.Thuận An;
  • - Công an TP.Thuận An;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, THAHS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Quang Ngọc Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 271/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 271/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm cắp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger