Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NAM TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 271/2024/HS-ST

Ngày: 23/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Thanh;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Minh Tuấn;

Ông Vương Đình Quang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Bùi Hoàng Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 226/2024/TLST-HS ngày 05/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 271/2024/QĐXXST-HS ngày 05/9/2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Thế T, sinh ngày 02/01/2008 (phạm tội khi 16 tuổi 02 tháng 04 ngày); Nơi thường trú: Thôn A, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng. Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn A, sinh năm 1976; con bà: Bùi Thúy H, sinh năm 1976. Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai. Vợ, con: chưa có; Tiền án; tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ ngày 21/3/2024, đến ngày 30/3/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.

  2. Mạc Đức H1, sinh ngày 13/01/2008 (phạm tội khi 16 tuổi 01 tháng 02 ngày); Nơi thường trú: Thôn G, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng. Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Mạc Văn H2, sinh năm 1976; con bà: Hoàng Thị O, sinh năm 1981. Gia đình có hai chị em, bị cáo là con thứ hai. Vợ, con: chưa có; Tiền án; tiền sự: Không.

    Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 22/3/2024, đến ngày 30/3/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo T có mặt, bị cáo H1 vắng mặt.

- Người đại diện cho bị cáo Nguyễn Thế T: ông Nguyễn Văn A, sinh 1976 và bà Bùi Thúy H, sinh 1976. Cùng nơi thường trú: Thôn A, xã H, huyện T, TP Hải Phòng – là bố mẹ đẻ của bị cáo (ông Văn A có mặt).

- Người đại diện cho bị cáo Mạc Đức H1: ông Mạc Văn H2, sinh 1976 và bà Hoàng Thị O, sinh 1981. Cùng nơi thường trú: Thôn G, xã H, huyện T, TP Hải Phòng – là bố mẹ đẻ của bị cáo (ông H2 có mặt).

- Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Thế T và Mạc Đức H1: Bà Nguyễn Thị N – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H (Bà N có mặt).

- Bị hại đều vắng mặt:

  • Anh Nguyễn Hải Đ, sinh năm 1992. Nơi thường trú: Số F, đường P, V, Thị xã S, Hà Nội. Nơi ở hiện tại: Tòa A, chung cư T, phường M, quận N, Hà Nội.

  • Anh Phạm Duy L, sinh năm 1994. Nơi thường trú: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Nam Định.

  • Anh Nguyễn Quốc V, sinh năm 2006. Nơi thường trú: Thôn E, A, TP P, tỉnh Gia Lai.

  • Anh Huỳnh Văn H3, sinh năm 2002. Nơi thường trú: 287A, Ấp B, phường 0, TP M, tỉnh Tiền Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Cháu Lô Văn T1, sinh ngày 22/12/2008. Nơi thường trú: Thôn F, xã C, E, tỉnh Đắc Lắc. Đại diện cho cháu T1: Anh Lô Văn M và chị Hoàng Thị Diễm . Nơi thường trú: Thôn F, xã C, E, tỉnh Đắc Lắc – là bố mẹ đẻ của anh T1 (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Nguyễn Hải Đ, sinh năm: 1992 – HKTT: số F đường P, V, S, Hà Nội sử dụng tài khoản facebook “L short liên tục” đăng bài trên mạng xã hội để tìm mua Fanpage Facebook có nhiều người tương tác, mục đích để kinh doanh qua mạng xã hội Facebook. Ngày 06/3/2024, Lô Văn T1 sinh ngày: 22/12/2008; Nơi ĐKHKTT: thôn F, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk) đọc được bài đăng của anh Đ nên đã sử dụng tài khoản facebook “Thắng Nhật N1” liên lạc với Nguyễn Thế T qua tài khoản facebook “Nguyễn T2” để rủ T lừa chiếm đoạt tài sản của anh Đ. T1 và T thống nhất sẽ giả vờ bán Fanpage cho anh Đ và sẽ yêu cầu anh Đ chuyển tiền trước, sau khi anh Đ chuyển tiền thì sẽ chặn liên lạc và chiếm đoạt tiền của anh Đ.

Sau khi thống nhất, T1 đã sử dụng tài khoản facebook “Thắng Nhật N1” liên lạc với anh Đ và giới thiệu có fanpage bán cho anh Đ với giá 2.100.000 đồng và lập nhóm trò chuyện qua M1 rồi thêm anh Đ, T vào để nói chuyện giao dịch mua bán fanpage. T1 và T yêu cầu phải chuyển tiền trước thì mới cung cấp tên đăng nhập, mật khẩu

fanpage cho anh Đ và thống nhất sẽ chuyển tiền mua bán fanpage vào tài khoản ngân hàng M2 số “02801020108888” của T. T yêu cầu anh Đ chuyển 2.100.000 đồng cho T với nội dung "long gd thang”. Do tin tưởng nên cùng ngày, tại Tòa A chung cư T, phường M, N, Hà Nội, anh Đ đã chuyển khoản 2.100.000 đồng từ tài khoản số “0491000116734” của mình tại ngân hàng V1 vào tài khoản M2 trên của T. Sau khi nhận được tiền, T giả vờ nói anh Đ ghi sai nội dung chuyển tiền nên phải làm thủ tục “tránh rửa tiền” bằng cách yêu cầu anh Đ chuyển tiếp 4.200.000 đồng cho T với nội dung “xac nhan” và hứa sẽ trả lại số tiền thừa sau khi xác nhận xong. Anh Đ do tin tưởng nên tiếp tục chuyển khoản 4.200.000 đồng cho T với nội dung “xac nhan”, nhưng sau đó T tiếp tục báo anh Đ chuyển tiền sai nội dung, yêu cầu chuyển thêm 10.500.000 đồng với nội dung “Hoan thanh thu tuc” và sau đó tiếp tục yêu cầu chuyển thêm 15.000.000 đồng với nội dung “Xac Nhan” và hứa hẹn sẽ trả lại tiền thừa sau khi xác nhận đúng các nội dung chuyển tiền. Anh Đ do tin tưởng nên tiếp tục chuyển 02 lần với tổng số tiền 25.500.000 đồng vào tài ngân hàng M2 số “02801020108888” của T. Sau khi nhận được tiền, T và T1 đã thoát nhóm trò chuyện và chặn liên lạc với anh Đ. Tổng số tiền Tài và T1 chiếm đoạt được của anh Đ là 31.800.000 đồng.

Sau khi chiếm đoạt được tiền của anh Đ, T chia cho T1 15.950.000 đồng (T chuyển 02 lần, số tiền 8.450.000 đồng và 7.500.000 đồng) đến tài khoản ngân hàng V1 số “7971922862” của T1. Sau khi được chia tiền, đến chiều tối ngày 06/3/2024, T1 do sợ bị cơ quan công an truy tìm nên T1 chỉ giữ lại 500.000 đồng và chuyển lại cho T 15.450.000 đồng (chuyển 02 lần tiền lần lượt 15.000.000 đồng, 450.000 đồng). Số tiền chiếm đoạt được, T và T1 đã tiêu sài cá nhân hết.

Ngày 18/3/2024, anh Nguyễn Hải Đ có đơn trình báo vụ việc đến Công an quận N và giao nộp nội dung tin nhắn messenger liên quan.

Ngày 21/3/2024, sau khi xác minh, Cơ quan điều tra Công an quận N đã ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thế T và triệu tập Lô Văn T1 đến làm việc.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thế T và Lô Văn T1 khai nhận hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản như trên và khai nhận: Bằng hình thức thông qua việc mua bán Fanpage trên ứng dụng Facebook tương tự như trên, T và T1 còn lừa đảo chiếm đoạt được số tiền 4.510.000 đồng của tài khoản facebook “Phạm Duy L”. Quá trình điều tra xác định: Ngày 12/03/2024, T1 ở nhà và vào mạng xã hội thì thấy tài khoản facebook “Phạm Duy L” của anh Phạm Duy L (sinh năm: 1994; Nơi ĐKNKTT: thôn B, xã T,

huyện V, Nam Định) đăng bài muốn mua 01 trang Fanpage trên ứng dụng facebook nên T1 đã liên hệ bán F cho anh L, anh L yêu cầu giao dịch qua tài khoản trung gian để tránh trường hợp chuyển khoản mua F mà T1 không chuyển lại tài khoản và mật khẩu trang F nên T1 đã thêm anh L vào nhóm trò chuyện trên ứng dụng Messenger gồm: T1 (sử dụng Facebook “Nguyễn Hữu L1”), T (sử dụng Facebook “Nguyễn Trường”) và anh L (sử dụng tài khoản Facebook “Phạm Duy L”), trong đó T đóng vai trò là tài khoản trung gian để cho anh L và T1 giao dịch. T sau đó gửi lên nhóm trò chuyện số tài khoản “02801020108888” tại ngân hàng M3 của T để anh L chuyển tiền giao dịch. Sau khi anh L chuyển số tiền 1.510.000 đồng với nội dung chuyển khoản “long gd le” thì T báo anh L là “nội dung giao dịch sai” và yêu cầu anh L và T1 chuyển lại số tiền 3.000.000 đồng để xác nhận lại giao dịch, khi xác nhận xong sẽ được chuyển lại số tiền 3.000.000 đồng. Để anh L tin tưởng, T1 đã tạo 01 bill chuyển tiền giả với nội dung chuyển thành công số tiền 3.000.000 đồng và gửi vào trong nhóm trò chuyện chung. Do thấy T1 đã gửi bill chuyển khoản số tiền 3.000.000 đồng nên anh L cũng tin tưởng và chuyển tiếp số tiền 3.000.000 đồng theo yêu cầu của T với nội dung “Long gd le”. Sau khi anh L chuyển số tiền trên xong thì T tiếp tục lấy lý do và yêu cầu anh L chuyển lại 3.000.000 đồng để xác nhận lại giao dịch, nếu không sẽ không nhận lại được số tiền trước nhưng anh L không đồng ý nên T và T1 đã chặn liên lạc với anh L. Tổng số tiền Tài và T1 đã chiếm đoạt được của anh L là 4.510.000 đồng. Số tiền chiếm đoạt được, T chuyển khoản cho T1 2.250.000 đồng và cả hai đã tiêu sài cá nhân hết.

Ngày 22/5/2024, anh Phạm Duy L đến Công an quận N trình báo sự việc.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thế T khai tài khoản facebook “Nguyễn T2” do T và Mạc Đức H1 góp tiền mua của một người không quen biết trên mạng xã hội với giá 6.000.000 đồng và sử dụng chung (nội dung tin nhắn liên quan đến việc mua bán tài khoản trên Tài đã xóa toàn bộ) nên Cơ quan điều tra đã triệu tập H1 đến để điều tra làm rõ.

Ngày 21/3/2024, Mạc Đức H1 đến Công an quận N đầu thú và khai nhận phù hợp với lời khai của Nguyễn Thế T: Từ khoảng năm 2020, H1 và T chơi game Free Fire và nhận thấy có thị trường mua bán tài khoản game này nên khoảng tháng 02/2024, T và H1 đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua hình thức mua, bán các tài khoản game Free Fire. H1 và T sau đó đã góp tiền mua và sử dụng chung tài khoản facebook “Nguyễn Trường” đăng nhiều bài liên quan đến việc mua, bán tài khoản game Free Fire để tạo uy tín với những người quan tâm đến tựa game này. Sau đó, H1 và T sẽ tìm

những người có nhu cầu mua, bán tài khoản game Free Fire trên các hội nhóm game Free Fire mạng xã hội Facebook. T hoặc H1 sẽ sử dụng 01 tài khoản facebook giả vờ mua (hoặc bán) tài khoản game Free Fire với người có nhu cầu mua, bán tài khoản game Free Fire và yêu cầu giao dịch thông qua người trung gian uy tín là người sử dụng tài khoản facebook “Nguyễn T2” (thực chất là T hoặc Hưởng). Hưởng (hoặc T) sẽ sử dụng tài khoản facebook “Nguyễn Trường” đóng vai trung gian và yêu cầu bị hại chuyển tiền cho bên trung gian để đảm bảo giao dịch mua bán giữa 02 bên là không lừa đảo rồi chiếm đoạt số tiền này nhưng H1 và T thống nhất với nhau chỉ sử dụng chung tài khoản facebook “Nguyễn T2”, còn sẽ hoạt động độc lập và không liên quan đến nhau, ai lừa được khách nào tự thực hiện. Sau khi lừa được tiền của người bị hại, H1 (hoặc T) sẽ chặn liên lạc và xóa đoạn chat với người bị hại nên giữa H1 và T mặc dù sử dụng chung tài khoản “Nguyễn T2” nhưng đều không biết người kia đã lừa đảo như thế nào, lừa ai và lừa được bao nhiêu tiền. Với thủ đoạn như trên, H1 đã thực hiện một số vụ lừa đảo chiếm đoạt tiền của người khác, cụ thể:

  1. Hành vi chiếm đoạt số tiền 4.010.000 đồng của anh Nguyễn Quốc V.

Ngày 15/2/2024, H1 đang ở nhà tại thôn G, xã H, huyện T, Hải Phòng thì có tài khoản facebook “Anh T3” (tạm gọi là T5) liên lạc với H1 qua facebook “Nguyễn T2” rủ H1 lừa chiếm đoạt 1.000.000 đồng của tài khoản facebook “Nguyễn Quốc V” của anh Nguyễn Quốc V (sinh ngày 10/4/2006; NKTT: thôn E, A, TP P, Gia Lai) đang có nhu cầu mua tài khoản game Free Fire, sau khi lừa được tiền của anh V sẽ chia nhau mỗi người 500.000 đồng.

Sau khi thỏa thuận, T5 và H1 đã tạo lập 01 nhóm trò chuyện qua M1 và thêm anh V vào nhóm trò chuyện này. H1 sử dụng tài khoản facebook “Nguyễn Trường” (nhận là bên trung gian) yêu cầu V chuyển 1.000.000 đồng tiền mua tài khoản game Free Fire và 10.000 đồng tiền phí trung gian cho H1 vào tài khoản ngân hàng OCB số “0762451665” mang tên MAC THI HUONG do H1 sử dụng. Do tin tưởng nên anh V đã nhờ chị Dương Thị T4 (Sinh năm 1990; Trú tại: Thôn E, A, thành phố P, tỉnh Gia Lai) sử dụng tài khoản ngân hàng V1 số “0291000284215” của chị T4 chuyển 1.000.000 đồng và 10.000 đồng đến tài khoản ngân hàng OCB của H1. Sau khi anh V chuyển tiền, H1 đã sử dụng tài khoản facebook “Nguyễn T2” nhắn tin riêng cho V và lấy lý do anh V chuyển tiền sai cú pháp để yêu cầu V chuyển thêm tiền để xác nhận lại và hứa hẹn sẽ trả lại tiền thừa khi anh V chuyển tiền đúng cú pháp. Anh V tin tưởng nên tiếp tục nhờ chị T4 chuyển 1.000.000 đồng và 2.000.000 đồng cho H1. Sau khi chiếm đoạt được của anh V 4.010.000 đồng thì H1 chặn liên lạc với anh V và chia

500.000 đồng cho T5, còn lại H1 đã tiêu sài cá nhân hết.

Ngày 22/3/2024, anh Nguyễn Quốc V đến Công an quận N trình báo sự việc trên.

Đối với người sử dụng tài khoản Facebook “Anh T3”, H1 khai không biết rõ nhân thân lai lịch. Sau khi chiếm đoạt được tiền, H1 đã chuyển khoản cho “Anh T3” 500.000 đồng nhưng không nhớ đã chuyển tiền cho “Anh T3” như thế nào. Cơ quan điều tra đã xác minh, sao kê tài khoản số “0762451665” tại ngân hàng O1 do H1 sử dụng nhưng không xác định được tài khoản đối ứng đối với các giao dịch có liên quan. Do H1 khai không biết rõ nhân thân của đối tượng “Anh T5” và khai đã xóa hết nội dung tin nhắn giữa H1 và “Anh T3” nên Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ và xử lý.

  1. Hành vi chiếm đoạt số tiền 7.700.000 đồng của anh Huỳnh Văn H3

Ngày 16/03/2024, H1 ở nhà tại thôn G xã H, huyện T, Hải Phòng và sử dụng tài khoản facebook “Đức Hưởng” thì thấy tài khoản Facebook “Bùi Nguyễn Thanh H4” của anh Huỳnh Văn H3 (sinh năm: 2002 – NKTT: 278A, Ấp B, phường A, TP M, tỉnh Tiền Giang) đăng bài bán 01 tài khoản game Free Fire nên H1 nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài khoản game và tiền của anh H3. Hưởng sau đó dùng tài khoản facebook “Đức Hưởng” nhắn tin vờ hỏi mua tài khoản game Free Fire của anh H3 với giá 3.300.000 đồng rồi yêu cầu giao dịch mua bán qua tài khoản facebook trung gian “Nguyễn Trường”. Hưởng tạo lập nhóm trò chuyện Messenger “3300” gồm “Nguyễn Trường”, “Đức Hưởng” và anh H3 để nhắn tin giao dịch mua bán và sử dụng điện thoại Iphone 15 Pro Max của mình để đăng nhập tài khoản facebook, H1 vừa sử dụng tài khoản facebook “Nguyễn Trường” để đóng vai trung gian, vừa sử dụng tài khoản facebook “Đ” để đóng vai người mua (bằng cách liên tục đăng nhập, thoát tài khoản) để nhắn tin với anh H3. Đầu tiên, H1 sử dụng tài khoản “Nguyễn T2” đóng vai trung gian nhắn yêu cầu người mua chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng “00000973739” mang tên Nguyễn Trọng L2 (là tài khoản giao dịch trung gian do H1 tự nghĩ ra và không có thật), yêu cầu ghi cú pháp chuyển tiền là “Nd hòa gd hưởng”. Tiếp đó, H1 truy cập internet trang web “Fakebill.thanhdieu.com” (là trang web chuyên làm giả biên lai chuyển tiền) tự tạo 01 biên lai chuyển tiền giả ghi số “6766342209” thể hiện việc đã chuyển thành công 3.300.000 đồng và cố tình ghi cú pháp chuyển tiền sai “Huong gdtg”) vào tài khoản ngân hàng T8 số “00000973739” mang tên Nguyễn Trọng L2 rồi H1 sử dụng tài khoản facebook “Đức Hưởng” (đóng vai người mua) gửi ảnh biên lai chuyển tiền thành công này vào nhóm “3300” để anh H3 tin tưởng rằng người mua đã chuyển tiền cho bên trung gian. Anh H3 do thấy biên lai chuyển tiền nên tin tưởng và

đã cung cấp thông tin tài khoản game Free Fire của mình (tên đăng nhập: huynhvanhoa20102018@gmail.com, mật khẩu: “meomeo031003”) cho H1. Hưởng sau đó đổi mật khẩu để chiếm đoạt tài khoản game Free F1 và H1 tiếp tục sử dụng tài khoản facebook “Nguyễn T2” nhắn vào nhóm “3300”, lấy lý do biên lai chuyển tiền số “6766342209” bị sai cú pháp, có thể là giao dịch rửa tiền nên yêu cầu 02 bên mua bán mỗi bên phải chuyển lại 3.300.000 đồng, ghi cú pháp “Nd: fb + xác nhận” vào tài khoản OCB số “0762451665” mang tên “MAC THI HUONG” (do H1 sử dụng) để xác nhận không phải là giao dịch vi phạm pháp luật và sẽ hoàn trả lại tiền khi xác nhận thành công. Hưởng sau đó tiếp tục tạo thêm 01 biên lai giả số “8569602504” thể hiện việc đã chuyển thành công số tiền 3.300.000 đồng vào tài khoản ngân hàng O1 số “0762451665” rồi H1 sử dụng tài khoản facebook “Đức Hưởng” (đóng vai người mua) gửi ảnh biên lai giả này vào nhóm “3300” để anh H3 tin bên mua đã chuyển tiền cho bên trung gian để xác nhận giao dịch không vi phạm pháp luật. Anh H3 do tin tưởng nên tiếp tục chuyển 3.100.000 đồng vào tài khoản ngân hàng O1 số “0762451665” mang tên MAC THI HUONG, ghi cú pháp là “fb bui nguyen thanh hoa xac nhan”. H1 tiếp tục sử dụng tài khoản facebook “Nguyễn T2” lấy lý do anh H3 chuyển tiền sai cú pháp, tiếp tục yêu cầu anh H3 chuyển 6.600.000 đồng vào tài khoản OCB trên để xác nhận lại và hứa sẽ trả lại anh H3 tiền thừa sau khi xác nhận thành công. Do anh H3 nói không có đủ tiền nên H1 lại tạo 01 biên lai chuyển tiền giả thể hiện việc chuyển 2.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng O1 trên rồi sử dụng tài khoản facebook “Đức Hưởng” gửi ảnh biên lai giả này vào nhóm “3300”, nói dối anh H3 là bên mua cho anh H3 vay 2.000.000 đồng và anh H3 chỉ cần chuyển 4.600.000 đồng để xác nhận lại giao dịch. Anh H3 do tin tưởng nên đã chuyển thêm cho Hưởng 4.600.000 đồng. Tổng số tiền H1 chiếm đoạt được của anh H3 là 7.700.000 đồng. Đối với tài khoản game chiếm đoạt được của anh H3: Hưởng sau đó đã bán cho người tên T6 được 1.500.000 đồng. Số tiền chiếm đoạt được, H1 đã tiêu sài cá nhân hết.

Ngày 24/3/2024, anh Huỳnh Văn H3 đến Công an quận N trình báo sự việc trên.

Đối với người mua tài khoản game do Mạc Đức H1 chiếm đoạt của anh Huỳnh Văn H3. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh chủ tài khoản 5650535828 tại ngân hàng B xác định mang tên Nguyễn Mai Minh T6 (SN: 2006; địa chỉ: C L, Khu Ê, N, Đà Nẵng) nên Cơ quan điều tra đã có quyết định ủy thác cho Cơ quan CSĐT Công an quận N, Đà Nẵng để lấy lời khai làm rõ việc mua bán tài khoản game nhưng đến nay chưa nhận được kết quả trả lời ủy thác nên Cơ quan điều tra đã có quyết định tách tài

liệu để tiếp tục làm rõ và xử lý sau.

Quá trình điều tra, xác minh xác định chủ tài khoản ngân hàng O1 số “0762451665” là chị Mạc Thị H5 (sinh năm: 2000 – NKTT: Thôn G, H, T, Hải Phòng). Chị H5 khai là chị gái của Mạc Đức H1, chị H5 đăng ký mở và sử dụng tài khoản trên vào khoảng đầu năm 2021. Đến khoảng tháng 02/2024, chị H5 đã cho Mạc Đức H1 mượn tài khoản ngân hàng này để sử dụng. Do chị H5 không biết H1 sử dụng tài khoản để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và cũng không được hưởng lợi gì nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để kết luận và xử lý.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thế T, Mạc Đức H1, Lô Văn T1 khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên.

Đối với Lô Văn T1: Do Lô Văn T1 sinh ngày 22/12/2008, tại thời điểm thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Đ ngày 06/3/2024 và anh L ngày 12/3/2024, T1 mới 15 tuổi 02 tháng 12 ngày (thuộc độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi) nên theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015, T1 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lô Văn T1, hình thức: Cảnh cáo về hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản theo điểm c khoản 1 Điều 15 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ.

Đối với các tài khoản ngân hàng và các giao dịch còn lại có liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra đã gửi công văn, quyết định ủy thác điều tra đến các cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền để yêu cầu cung cấp các thông tin có liên quan và lấy lời khai, xác minh làm rõ nhưng đến nay chưa nhận được phúc đáp và thời hạn điều tra đã hết nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định tách tài liệu liên quan để tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.

Đối với hành vi của Nguyễn Thế T và Mạc Đức H1 đã mua và sử dụng chung tài khoản facebook “Nguyễn Trường” để thực hiện hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản, quá trình điều tra xác định do cả hai đều thực hiện hành vi độc lập với nhau và sau khi chiếm đoạt được tài sản đều đã tự xóa hết tin nhắn nên không ai biết người còn lại đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của ai và như thế nào. Do đó, Cơ quan điều tra không kết luận về hành vi đồng phạm là có căn cứ.

Về dân sự: Anh Nguyễn Hải Đ, anh Phạm Duy L, anh Huỳnh Văn H3, anh Nguyễn Quốc V yêu cầu Nguyễn Thế T, Mạc Đức H1 và Lô Văn T1 hoàn trả lại số tiền đã chiếm đoạt. Anh Huỳnh Văn H3 khai lập và sử dụng tài khoản game Free Fire để giải trí và

không có yêu cầu, đề nghị gì liên quan đến tài khoản game này.

Do tội phạm xảy ra ở N và bị hại chuyển tiền ở nhiều nơi khác nhau nhưng các bị hại chỉ trình báo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận N (là nơi xảy ra tội phạm, phát hiện tội phạm và bắt giữ các bị can) nên vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra nơi xảy ra, phát hiện và bắt giữ tội phạm theo quy định tại khoản 4 Điều 163 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Lời khai nhận tội của Nguyễn Thế T và Mạc Đức H1 là phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của Lô Văn T1, phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với lời khai của người liên quan, phù hợp với vật chứng đã thu giữ và tài liệu điều tra khác.

Tại Bản cáo trạng số 220/CT-VKSNTL ngày 30/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố các bị cáo Nguyễn Thế T và Mạc Đức H1 về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Thế T khai nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo thừa nhận lợi dụng lòng tin của bị hại để lừa đảo chiếm đoạt tài sản và lấy tiền tiêu xài.

Bị cáo Mạc Văn H6 có đơn xin xét xử vắng mặt, do ngày 29/8/2024, bị cáo H6 bị tai nạn giao thông nên không thể tham gia phiên tòa. Bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra và mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát trong phần luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng số 220/CT-VKSNTL ngày 30/8/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: khoản 1, Điều 174; điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 90; Điều 91; Điều 65 của Bộ luật hình sự:

  • + Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế T từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.

  • + Xử phạt bị cáo Mạc Đức H1 từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.

Giao các bị cáo cho UBND xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là người chưa thành niên phạm tội nên không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung.

Về dân sự:

  • + Ghi nhận gia đình bị cáo Nguyễn Thế T đã bồi thường xong cho anh Nguyễn Hải Đ số tiền 31.800.000 đồng và anh Phạm Duy L số tiền là 4.510.000 đồng. Tổng là 36.310.000đồng.

  • + Ghi nhận gia đình bị cáo Mạc Đức H1 đã nộp số tiền 11.710.000 đồng khắc phục hậu quả cho anh Huỳnh Quang H7 (số tiền 7.700.000 đồng) và anh Nguyễn Quốc V (số tiền 4.010.000 đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm. Theo Biên lai thu tiền ngày 13/9/2024 tại Chi cục Thi hành dân sự quận N.

  • + Buộc bị cáo Mạc Đức H1 nộp lại số tiền 1.500.000 đồng thu lời bất chính để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu sung quỹ đối với 01 điện thoại Iphone 15 ProMax màu bạc, imei 355319541284928 (thu giữ của Nguyễn Thế T); 01 điện thoại Iphone 15 ProMax màu bạc, IMEI 358879682101600 (thu giữ của Mạc Đức H1); 01 điện thoại Iphone 8 plus, màu đen, IMEI: 356772083746895 (thu giữ của Lò Văn T7).

Người bào chữa cho bị cáo T và bị cáo H1 – bà N không có ý kiến gì về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố đối với bị cáo T và bị cáo H1. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo tuổi đời còn trẻ, phạm tội ở thời điểm chưa thành niên, hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Các bị cáo khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải, đều chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo đều đã khắc phục hậu quả sau khi phạm tội, bị cáo H1 đã ra đầu thú. Đề nghị HĐXX xem xép áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 cho các bị cáo được hưởng mức án treo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Lời nói sau cùng bị cáo T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tố tụng: Bị cáo H1 vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo H1 có đơn xin xét xử vắng mặt, do ngày 29/8/2024, bị cáo H1 bị tai nạn giao thông nên không thể tham gia phiên tòa. Bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra và mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy HĐXX vẫn tiếp tục xét xử vắng mặt bị cáo H1 theo điểm c, khoản 2, Điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các biên bản, tài liệu khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở để xác định: Từ ngày 15/02 đến ngày 16/3/2024, Nguyễn Thế T và Mạc Đức H1 cùng đối tượng Lô Văn T1 (chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự) mặc dù không có tài khoản game Free F1, tài khoản Fanpage Facebook để bán và cũng không có nhu cầu mua tài khoản game Free F1, tài khoản Fanpage Facebook nhưng đã đưa ra thông tin gian dối giả vờ có nhu cầu mua (hoặc bán) tài khoản game Free Fire, Fanpage Facebook làm cho các bị hại tin tưởng chuyển tiền sau đó tiếp tục có hành vi gian dối về việc người chuyển tiền đã ghi sai nội dung để yêu cầu chuyển lại tiền để xác nhận giao dịch sau đó chiếm đoạt, cụ thể như sau:

  • * Đối với Nguyễn Thế T:

Vụ 1: Ngày 06/3/2024, tại Tòa A chung cư T, phường M, Quận N, Hà Nội, anh Nguyễn Hải Đ do tin tưởng Nguyễn Thế T và đối tượng Lô Văn T1 có tài khoản Fanpage Facebook để bán và tin việc T nói anh Đ đã ghi sai nội dung chuyển tiền và yêu cầu chuyển lại để xác nhận nên đã nhiều lần chuyển tiền cho T (lần 01: 2.100.000 đồng; lần 2: 4.200.000 đồng; lần 3: 10.500.000 đồng và lần 4: 15.000.000 đồng) để mua bán tài khoản Fanpage Facebook. Qua đó, T và T1 đã chiếm đoạt được của anh Đ với tổng số tiền 31.800.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt được tiền, T chia cho T1 500.000

đồng, còn hưởng lợi là 31.300.000 đồng.

Vụ 2: Cũng với thủ đoạn tương tự như trên, ngày 12/3/2024, Nguyễn Thế T và đối tượng Lô Văn T1 mặc dù không có tài khoản Fanpage Facebook để bán nhưng đã có hành vi gian dối để anh Phạm Duy L tin tưởng nên cùng ngày, tại thôn B, xã T, Vụ B, Nam Định, anh Phạm Duy L đã nhiều lần chuyển tiền cho T (lần 01: 1.510.000 đồng; lần 2: 3.000.000 đồng) để mua tài khoản Fanpage. Qua đó, T và T1 đã chiếm đoạt được của anh L với tổng số tiền là 4.510.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt được tiền, T đã chia cho T1 2.250.000 đồng, còn lại hưởng lợi là 2.260.000 đồng.

Tổng số tiền Nguyễn Thế T lừa đảo chiếm đoạt hai vụ là 36.310.000 đồng.

Vào ngày 16/9/2024 Gia đình bị cáo T đã bồi thường cho anh Phạm Duy L số tiền 4.510.000đồng và vào ngày 17/9/2024 đã bồi thường cho anh Nguyễn Hải Đ số tiền 31.800.000 đồng

  • * Đối với Mạc Đức H1:

Vụ 1: Ngày 15/02/2024, Mạc Đức H1 và đối tượng sử dụng facebook “Anh Tuấn” (hiện chưa xác định được) mặc dù không có tài khoản game Free Fire để bán nhưng đã có hành vi gian dối để anh Nguyễn Quốc V tin tưởng chuyển tiền mua tài khoản game Free Fire. Cùng ngày, tại thôn E A, thành phố P, Gia Lai, anh Nguyễn Quốc V do tin tưởng nên đã nhiều lần chuyển khoản tiền cho H1 (lần 01: 1.000.000 đồng; lần 2: 10.000 đồng; lần 3: 1.000.000 đồng; lần 4: 2.000.000 đồng) để mua tài khoản game Free Fire. Qua đó, H1 đã chiếm đoạt của anh V với tổng số tiền là 4.010.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt được tiền, H1 chia cho đối tượng “Anh Tuấn” 500.000 đồng, còn hưởng lợi là 3.510.000 đồng.

Vụ 2: Ngày 16/3/2024, Mạc Đức H1 mặc dù không có nhu cầu mua tài khoản game Free Fire nhưng đã có hành vi gian dối để anh Huỳnh Văn H3 tin tưởng chuyển tiền để xác nhận giao dịch sau đó chiếm đoạt. Ngày 18/3/2024, tại số B, Ấp B, phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, anh Huỳnh Văn H3 do tin tưởng H1 có nhu cầu mua tài khoản game Free Fire nên đã cung cấp mật khẩu của tài khoản game Free F1 và tin việc H1 nói chuyển tiền để xác nhận giao dịch, sai cú pháp đã nhiều lần chuyển tiền cho H1 để xác nhận lại giao dịch (lần 01: 3.100.000 đồng; lần 2: 4.600.000 đồng). Qua đó, H1 đã chiếm đoạt được của anh H3 với tổng số tiền 7.700.000 đồng. Số tiền chiếm đoạt được cùng với số tiền 1.500.000 đồng bán tài khoản game, H1 đã tiêu sài cá nhân hết.

Tổng số tiền Mạc Đức H1 lừa đảo chiếm đoạt hai vụ là 11.710.000 đồng.

Vào ngày 13/9/2024, ghi nhận gia đình bị cáo H1 đã nộp số tiền 11.710.000 đồng khắc phục hậu quả tại Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm - theo biên lai thu tiền ngày 13/9/2024 tại Chi Cục Thi hành dân sự quận N.

Hành vi nêu trên của các bị cáo T và bị cáo H1 đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 của của Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo T và bị cáo H1 là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, lợi dụng lòng tin của các bị hại để thực hiện hành vi lừa đảo lấy tiền tiêu xài cá nhân, nên cần phải xử lý nghiêm đối với các bị cáo để giáo dục và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét vai trò của các bị cáo, HĐXX thấy rằng: Các bị cáo là đồng phạm giản đơn nên các bị cáo chịu mức hình phạt phù hợp với hành vi của các bị cáo gây ra.

[4] Khi lượng hình phạt, xét các bị cáo T và bị cáo H1 phạm tội 02 lần trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải, nhân thân các bị cáo đều chưa có tiền án tiền sự, các bị cáo đã khắc phục hậu quả, anh Đ và anh L có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T. Bị cáo H1 sau khi phạm tội ra đầu thú, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự, bị cáo T và bị cáo H1 còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung, tuy nhiên các bị cáo là đối tượng không nghề nghiệp, là người dưới 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Về dân sự:

  • + Ghi nhận bị cáo Nguyễn Thế T đã bồi thường xong cho anh Nguyễn Hải Đ số tiền 31.800.000 đồng và anh Phạm Duy L số tiền là 4.510.000 đồng. Tổng là 36.310.000 đồng.

  • + Ghi nhận gia đình bị cáo H1 đã nộp số tiền 11.710.000 đồng khắc phục hậu quả cho anh Huỳnh Quang H7 (số tiền 7.700.000 đồng) và anh Nguyễn Quốc V (số tiền 4.010.000 đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm - theo Biên lai thu tiền ngày 13/9/2024 tại Chi cục Thi hành dân sự quận N.

Buộc bị cáo Mạc Đức H1 nộp lại số tiền 1.500.000 đồng thu lời bất chính để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

[7] Về xử lý vật chứng:

Xử lý vật chứng:

Tịch thu sung quỹ đối với 01 điện thoại Iphone 15 ProMax màu bạc, Imei 355319541284928 (thu giữ của Nguyễn Thế T); 01 điện thoại Iphone 15 ProMax màu bạc, Imei 358879682101600 (thu giữ của Mạc Đức H1); 01 điện thoại Iphone 8 plus, màu đen, IMEI: 356772083746895 (thu giữa của Lò Văn T7).

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo T và bị cáo H1 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

[9] Về kháng cáo: Các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, người giám hộ cho các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thế T và bị cáo Mạc Đức H1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

1. Về hình phạt:

  • + Áp dụng: khoản 1, Điều 174; điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 90; Điều 91; Điều 65 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế T 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Thế T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

  • + Áp dụng: khoản 1, Điều 174; điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 90; Điều 91; Điều 65 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Mạc Đức H1 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Mạc Đức H1 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành án phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2.Về dân sự:

  • + Ghi nhận bị cáo Nguyễn Thế T đã bồi thường cho anh Nguyễn Hải Đ số tiền 31.800.000 đồng và anh Phạm Duy L số tiền là 4.510.000 đồng. Tổng cộng: 36.310.000 đồng.

  • + Ghi nhận gia đình bị cáo Mạc Đức H1 đã nộp số tiền 11.710.000 đồng khắc phục hậu quả cho anh Huỳnh Quang H7 (số tiền 7.700.000 đồng) và anh Nguyễn Quốc V (số tiền 4.010.000 đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm - theo Biên lai thu tiền ký hiệu BLTT/23 0026502 ngày 13/9/2024 tại Chi cục thi hành dân sự quận N.

Buộc bị cáo Mạc Đức H1 nộp lại số tiền 1.500.000đồng thu lời bất chính để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

3. Xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Sung công quỹ nhà nước:

  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax màu bạc, IMEI: 355319541284928, điện thoại đã qua sử dụng;

  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 ProMax màu bạc, IMEI: 358879682101600, điện thoại đã qua sử dụng;

  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Plus màu đen, IMEI: 356772083746895, điện thoại đã qua sử dụng.

Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 277 ngày 04/9/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

4. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thế T và bị cáo Mạc Đức H1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo T, người bào chữa cho các bị cáo, người đại diện cho các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị cáo H1, bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có quyền kháng cáo về quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận :

  • - Bị cáo; người bào chữa;

  • người giám hộ;

  • - Bị hại;

  • - Người liên quan;

  • - VKSND quận Nam Từ Liêm;

  • - VKSND TP Hà Nội;

  • - TAND TPHN;

  • - Công an quận Nam Từ Liêm;

  • - Chi cục Thi hành án dân sự

  • quận Nam Từ Liêm;

  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phan Thị Kim Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 271/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 271/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thế T - Mạc Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1, Điều 174 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger