Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 271/2024/HS-ST

Ngày 17-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ;
  2. Ông Nguyễn Đức Lợi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Việt Hà, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Luân, Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 268/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 286/2024/QĐXXST-HS ngày 05/9/2024 đối với bị cáo:

Trần Văn T, sinh năm 1986 tại tỉnh Phú Yên; thường trú: Đường C Khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên; nơi ở hiện tại: Số C, Đường A, Khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Trần Văn C, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1966; bị cáo có 03 anh, em, lớn nhất bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tại bản án số 25 ngày 20/3/2015 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, tuyên phạt Trần Văn T 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã đóng án phí vào ngày 12/10/2015 chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/10/2015.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/5/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Chị Lê Phương Lan V, sinh năm 2003; địa chỉ: Số D, đường L, Phường E, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

* Người tham gia tố tụng khác:

- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1997, vắng mặt.

- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 2002, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 17/5/2024, Trần Văn T bắt xe buýt từ đường P, Thành phố Hồ Chí Minh đi đến khu vực khu Đ thuộc khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương để tìm việc làm. Đến khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, T xuống xe buýt rồi đi bộ quanh khu vực Đại học quốc gia Thành phố H, đến trước trường Đại học Q, bị cáo Trương thấy ở sân trường đang tổ chức sự kiện Job-Fair nên đi vào xem. Tại đây, Trương thấy trên mặt bàn để 01 điện thoại Iphone 11 Pro màu xanh, bên ngoài có ốp nhựa màu trắng, có dây treo điện thoại xâu chuỗi hạt nhựa trắng của chị Lê Phương Lan V, sinh năm 20023, địa chỉ Số D, đường L, Phường E, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh đang tham gia chương trình sự kiện. Bị cáo Trương nhìn thấy không có ai trông giữ điện thoại nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Trương tiến lại nơi để điện thoại, lén lút lấy tay phải cầm điện thoại và bỏ đi được khoảng 02 mét, thì bị chị Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1997; địa chỉ Số F khu phố C, phường L, Biên thành phố B, tỉnh Đồng Nai, phát hiện và cùng những người gần đó bắt giữ Trần Văn T.

Vật chứng thu giữ:

Một điện thoại di động Iphone 11 Pro màu xanh, bên ngoài có ốp nhựa màu trắng, có dây treo điện thoại xâu chuỗi hạt nhựa trắng.

Theo kết luận định giá tài sản số 96 ngày 22/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự, kết luận điện thoại Iphone 11 Pro màu xanh trị giá 5.500.000 đồng (năm triệu năm trăm nghìn đồng).

Tại cáo trạng số 276/CT-VKS ngày 19 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Văn T về Tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn T mức án từ 09 đến 12 tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra xác định: điện thoại di động Iphone 11 Pro màu xanh, bên ngoài có ốp nhựa màu trắng, có dây treo điện thoại xâu chuỗi hạt nhựa trắng là của chị Lê Phương Lan V. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả lại tài sản trên cho chị Lê Phương Lan V.

Về trách nhiệm dân sự:

Chị Lê Phương Lan V sau khi nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo Trần Văn T bồi thường gì thêm.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không trình bày ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên, không trình bày lời bào chữa cho hành vi phạm tội, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào lời khai của đương sự xác định trách nhiệm dân sự bị hại không có yêu cầu gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 17/5/2024, tại sân trường Đại học Q thuộc khu vực Đại học quốc gia Thành phố H, thuộc khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Trần Văn T đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt một điện thoại di động Iphone 11 Pro màu xanh, bên ngoài có ốp nhựa màu trắng, có dây treo điện thoại xâu chuỗi hạt nhựa trắng để trên mặt bàn của chị Lê Phương L V có trị giá 5.500.000 đồng (năm triệu năm trăm nghìn đồng). Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại cơ quan Điều tra và phù hợp với bản kết luận định giá số 96 ngày 22/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân thành phố D.

Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 276/CT-VKS ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhưng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội không gây thiệt hại, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

[6] Về nhân thân: Năm 2015, bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, tuyên phạt Trần Văn T 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã nộp án phí và chấp hành xong hình phạt năm 2015)

[7] Về hình phạt:

- Về hình phạt chính: Bị cáo phạm tội tuy là ít nghiêm trọng, nhưng đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

- Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, áp dụng hình phạt tù cũng đủ sức răn đe, giáo dục nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Chị Lê Phương Lan V đã nhận lại một điện thoại di động Iphone 11 Pro màu xanh, bên ngoài có ốp nhựa màu trắng, có dây treo điện thoại xâu chuỗi hạt nhựa trắng, không có yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[10] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố D đề nghị áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, đối với bị cáo là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. Riêng mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị là cao so với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xử phạt dưới khung mức hình phạt mà đại diện viện kiểm sát đề nghị.

[11] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm Tội trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Văn T 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/5/2024.

  1. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo (01);
  • - VKSND TP Dĩ An (01);
  • - Công an TP Dĩ An (02);
  • - Trại tạm giam CA tỉnh BD (01);
  • - Chi cục THADS TP Dĩ An (01);
  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01);
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú (01);
  • - Phòng PV 27 CA tỉnh BD (01);
  • - Phòng PC 81 CA tỉnh BD (01);
  • - Lưu: VT, HSVA (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thắm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 271/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (tội trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 271/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Trần Văn Tr phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger