Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VINH

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 271/2024/HS-ST

Ngày: 16/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hồ Hòa

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thái Quý – Ông Phan Đình Chiến

- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Văn Dương – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh: Ông Trần Quý Thuyên, kiểm sát viên.

Ngày 16/9/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 270/2024/HSST ngày 23/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 328 ngày 04/9/2024 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Nhật K - Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 08 tháng 5 năm 2001 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký HKTT: Xóm D, xã N, huyện N, Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đình L– sinh năm 1969; Con bà: Vương Thị H– sinh năm 1971; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/01/2024 đến nay; Có mặt tại phiên toà.

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo:

  • + Bà Vương Thị H – sinh năm 1972 – có mặt
  • Địa chỉ: Xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.

- Người bị hại:

  • + Cháu Ngô Minh Đ - sinh ngày 16/4/2008 – vắng mặt
  • Địa chỉ: K, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An
  • + Cháu Lê Minh L1 – sinh ngày 23/7/2010 – vắng mặt
  • Địa chỉ: K, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An

- Người đại diện hợp pháp cho bị hại:

  • + Ông Ngô Quốc Đ1 – sinh năm 1980; Địa chỉ: K, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An (bố cháu Đ) – vắng mặt
  • + Bà Võ Thị H1 – sinh năm 1989 (mẹ cháu L1) – vắng mặt
  • Địa chỉ: K, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị H2 – sinh năm 1975

Địa chỉ: Khối Đ, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An – vắng mặt

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Thị Thu H3 – Trợ giúp viên – Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 14/01/2024, Nguyễn Nhật K, đi chơi về trước nhà số A, đường P, thuộc phường B, thành phố V, Nghệ An thì gặp cháu Lê Minh L1, sinh năm 2010, trú tại khối A, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An đang điều khiển 01 (một) chiếc xe máy điện nhãn hiệu JVC, màu đen, biển kiểm soát 37MĐ4-118.61 chở cháu Ngô Minh Đ, sinh ngày 16/4/2008, trú cùng khối (xe thuộc sở hữu của cháu Ngô Minh Đ) đi qua. K vẫy xe và xin đi nhờ xe thì cháu L1 đồng ý. Cháu L1 giao xe cho K điều khiển chở cháu L1 và cháu Đ. Trên đường đi, K nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe trên nên nói với cháu Đ và cháu L1 là K làm việc tại nhà hàng Đ2 thuộc phường H, thành phố V. Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày 14/01/2024, K bảo với cháu Đ xuống xe để K và cháu L1 đi vào trong nhà hàng để K vay tiền, cháu Đ đồng ý rồi xuống xe, đứng chờ ở ven đường, còn K tiếp tục chở cháu L1 đi. Khi đến ngõ H, đường D thuộc khối T, phường H, thành phố V, K lấy 01 (một) chiếc bật lửa, màu đỏ từ trong túi quần và vứt xuống đường, di chuyển thêm khoảng 5 mét thì dừng xe và nói cháu L1 xuống xe, nhặt chiếc bật lửa trên. Cháu L1 đi đến vị trí chiếc bật lửa thì K điều khiển xe máy điện trên bỏ chạy. Thấy vậy, cháu L1 chạy đuổi theo thì K quay người lại nói: "Mi đừng đuổi theo nữa, tau đập đó" rồi tiếp tục điều khiển xe bỏ chạy đến quán G ở số A, đường P, phường B, thành phố V. Tại đây, K gặp và nhờ anh Ngô Xuân Q, sinh năm 2000, trú tại xã H, huyện H, Nghệ An (Bạn cùng chơi điện tử tại quán G) chỉ chỗ cầm cố xe để vay tiền. Sau đó, anh Q chở K (bằng chiếc xe Khánh chiếm đoạt của cháu L1 và Đ) đến tại nhà riêng của chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1975, trú tại khối Đ, phường H, thành phố V để cầm cố xe máy điện. Tại đây, K để lại chiếc xe máy điện để làm tin và hỏi vay chị H2 số tiền 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Chị H2 hỏi K về nguồn gốc xe thì K nói chiếc xe máy điện trên là của K để quên giấy tờ và sạc pin ở nhà. Do tin tưởng nên chị H2 đồng ý cho K vay số tiền 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Sau đó, K viết 01 (một) giấy vay tiền mang tên Cao Bá K1 cho chị H2 giữ và nhận số tiền 3.900.000 đồng (Ba triệu chín trăm nghìn đồng), còn lại 600.000 đồng chị H2 giữ lại do xe không có sạc pin. Sau khi nhận đủ tiền, K cùng anh Q bắt xe taxi quay lại quán G để chơi game. Tại đây, K đưa cho anh Q số tiền 240.000 đồng (Hai trăm bốn mươi nghìn đồng), số tiền còn lại K đã mua 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu trắng, đã qua sử dụng tại 01 (một) cửa hàng điện thoại trên đường N, thành phố V (không nhớ rõ địa chi) và tiêu xài cá nhân 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Ngày 14/01/2024, các cháu Đ và L1 đến Công an phường H, thành phố V trình báo sự việc. Đến ngày 15/01/2024, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và biết Cơ quan Công an đang điều tra nên Nguyễn Nhật K đã đến trụ sở Công an phường H, thành phố V để đầu thú về hành vi phạm của mình.

Quá trình điều tra xác định K có biểu hiện bị bệnh tâm thần nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V ra Quyết định trưng cầu giám định đến Phân viện pháp y tâm thần B. Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo yêu cầu số 15/KLGĐ ngày 30/5/2024 của Phân viện Pháp y tâm thần Bắc miền T kết luận:

“Tại thời điểm trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội, bị can Nguyễn Nhật K bị bệnh: Các rối loạn khí sắc cảm xúc thực tổn, kèm theo Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất gây ảo giác với Hội chứng nghiện. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10, năm 1992 (ICD 10) có mã bệnh là: F16.2/F06.3 (Rối loạn cảm xúc mức độ vừa).

Tại thời điểm sau khi thực hiện hành vi phạm tội và thời điểm giám định, bị can Nguyễn Nhật K bị bệnh: Các rối loạn khí sắc cảm xúc thực tổn, kèm theo Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất gây ảo giác với Hội chứng nghiện, hiện đang cai nhưng ở trong môi trường được quản lý. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10, năm 1992 (ICD 10) có mã bệnh là: F16.21/F06.3 (Rối loạn cảm xúc mức độ vừa).

Tại các thời điểm đã nêu trên, bị can Nguyễn Nhật K hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 115/KL-ĐGTS, ngày 23/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thành phố V, kết luận: “01 (một) xe máy điện nhãn hiệu JVC, màu đen, biển kiểm soát 37MĐ4 - 11861, số khung: RL9Y6EKHVPBTE1193, số máy JVC60V800WD230302277, màu đen, số khung biển kiểm soát 37MĐ4 - 11861, đăng kí lần đầu vào tháng 9/2023, đã qua sử dụng trên địa bàn thành phố V, tỉnh Nghệ An vào tháng 01/2024 có trị giá 10.500.000 đồng”.

Tại bản cáo trạng số 282/CT-VKS-TPV ngày 23/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh đã truy tố Nguyễn Nhật K về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm g khoản 2 điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 điều 171; điểm b, s, p, r khoản 1, 2 điều 51; điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật K từ 18 đến 21 tháng tù. Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST và DSST theo quy định pháp luật.

Người bào chữa cho các bị cáo: Trợ giúp viên pháp lý bà Trần Thị Thu H3 trình bày: Bị cáo là người hạn chế nhận thức và điều khiển hành vi, bị khuyết tật nặng, ý thức pháp luật còn hạn chế, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xử bị cáo mức án thấp nhất như đề xuất của Viện kiểm sát.

Bị cáo không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Xét hành vi phạm tội: Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố là đúng. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà. Như vậy, có cơ sở để kết luận: Vào khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 14/01/2024, tại ngõ H, đường D thuộc khối T, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Nhật K xin đi nhờ xe rồi cướp giật 01 (một) chiếc xe máy điện nhãn hiệu JVC, màu đen, biển kiểm soát 37MĐ4 -11861, của cháu Ngô Minh Đ và Lê Minh L1, sau đó nhanh chóng tẩu thoát. Trị giá tài sản chiếm đoạt là 10.500.000 đồng (Mười triệu năm trăm nghìn đồng). Tại thời điểm ngày 14/01/2024, cháu Ngô Minh Đ 15 tuổi, 8 tháng, 29 ngày; cháu Lê Minh L1 13 tuổi, 5 tháng, 22 ngày. Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” theo điểm g khoản 2 điều 171 Bộ luật hình sự như bản cáo trạng truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

[2.2] Xét tính chât vụ án: Tội phạm thuộc loại rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người bị hại được pháp luật bảo vệ. Vì vậy cần xử phạt nghiêm nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

[2.3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã bồi thường khắc phục sữa chữa, bị cáo là người khuyết tật nặng được hưởng trợ cấp hàng tháng, tại thời điểm phạm tội bị cáo bị hạn chế nhận thức cũng như điều khiển hành vi, sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s, p, r khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 điều 51 nên cần áp dụng điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng dưới khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đủ nghiêm và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[2.4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo hiện lao động tự do, công việc không ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[2.5] Về vấn đề khác: Đối với số tiền 750.000 đồng và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu trắng thu giữ của bị cáo là tiền, vật do phạm tội mà có nên cần tịch thu xung quỹ nhà nước.

[3]. Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được bồi thường, không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét.

[4] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm g khoản 2 điều 171 Bộ luật hình sự;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Nhật K phạm tội “Cướp giật tài sản”.

2. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm g khoản 2 điều 171; điểm b, s, p, r khoản 1, 2 điều 51; điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Nhật K 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/01/2024.

3. Về vật chứng: Căn cứ vào điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu xung quỹ nhà nước số tiền 750.000 đồng thu giữ từ bị cáo Nguyễn Nhật K (Hiện có tại Kho bạc nhà nước N theo bien bản giao nhận tài sản số: 17/2024/BBBG-KBNA(VNĐ) ngày 25/3/2024 và phiếu nhập kho TK: 9911 ngày 25/3/2024); Tịch thu xung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus màu trắng thu giữ của Nguyễn Nhật K (Vật chứng có tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án thành phố Vinh theo phiếu nhập kho số NK 2024/305 ngày 16/9/2024).

4. Về án phí: Căn cứ vào điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Nguyễn Nhật K phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST.

5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, Người bào chữa, Người đại diện cho bị cáo được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An. Người bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ/.

Nơi nhận

  • - VKS, THADS TP Vinh;
  • - Công an TPVĩnh;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Trại tạm giam;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú (để biết);
  • - Lưu HS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Hồ Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 271/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 271/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bản án số 271/HSST
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger